vanban.org

Bản án 07/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H, cụ thể:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Hồ Văn Tấn T. Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung họ tên là Hồ Nguyễn Nhựt T1, sinh ngày 21/11/2013 và Hồ Thị Thuỷ T2, sinh ngày 05/9/2015. Sau khi ly hôn, hai con chung giao cho chị H trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Xin vắng mặt) - Bị đơn: Anh Hồ Văn Tấ…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 07/2024/HNGĐ–ST
Ngày: 10-01-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiền

2. Bà Đinh Thị Thanh Tuyền

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Diệu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 418/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 495/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 520/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. (Xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Hồ Văn Tấn T, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H trình bày:

Chị và anh Hồ Văn Tấn T do quen biết, tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào ngày 12/11/2013 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định.

Thời gian đầu sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Anh T không chăm lo gia đình, không phụ giúp chị chăm sóc các con, chị đã nhẫn nhịn và khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Chị và anh T đã sống ly thân khoảng hai năm, gia đình có tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn nhưng không thành. Nay chị thấy giữa vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có hai con chung họ tên là Hồ Nguyễn Nhựt T1, sinh ngày 21/11/2013 và Hồ Thị Thuỷ T2, sinh ngày 09/5/2015. Chị yêu cầu sau khi ly hôn hai con chung giao cho chị trực tiếp nuôi, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Hồ Văn Tấn T vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà nên không có lời trình bày, không cung cấp văn bản nêu ý kiến và tài liệu, chứng cứ cho Toà án xem xét.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam trình bày quan điểm như sau:

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc H. Về hôn nhân: Chị H được ly hôn với anh Hồ Văn Tấn T. Về con chung: Hồ Nguyễn Nhựt T1, sinh ngày 21/11/2013 và Hồ Thị Thuỷ T2, sinh ngày 09/5/2015, giao cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị H có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Hồ Văn Tấn T có nơi cư trú tại ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào quan hệ pháp luật tranh chấp và nơi cư trú của bị đơn xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị Ngọc H có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị H. Anh Hồ Văn Tấn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H, Hội đồng xét xử nhận định: Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre vào ngày 12/11/2013 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong thời gian chung sống, giữa chị H và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H xác định là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, anh T không chăm lo gia đình, không phụ giúp chị chăm sóc các con, chị đã nhẫn nhịn và khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh T không thay đổi, anh chị đã sống ly thân khoảng hai năm được gia đình hàn gắn nhưng không thành. Anh T đã được Toà án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo tham gia phiên hoà giải nhưng anh không đến chứng tỏ anh T cũng không có thiện chí đoàn tụ. Anh T cũng không cung cấp văn bản nêu ý kiến hay phản đối lời trình bày của chị H. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, chị H vẫn kiên quyết giữ nguyên quan điểm ly hôn. Từ các cơ sở trên cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh T.

Xét về con chung: Chị H và anh T có hai chung họ tên là Hồ Nguyễn Nhựt T1, sinh ngày 21/11/2013 và Hồ Thị Thuỷ T2, sinh ngày 09/5/2015. Hiện nay hai con chung đng sống với chị H. Chị H yêu cầu sau khi ly hôn hai con chung giao cho chị trực tiếp nuôi. Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của các con chung và có xem xét đến nguyện vọng của con chung nên để các cháu cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Hơn nữa, anh T cũng không đưa ra yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con là ý chí tự nguyện của chị nên ghi nhận.

Xét về tài sản chung: Chị H xác định không có tài sản chung, anh T không đưa ra yêu cầu Toà án giải quyết về chia tài sản nên không giải quyết.

Xét về nợ chung: Chị H xác định không có nợ chung, anh T không đưa ra yêu cầu nên không giải quyết.

Xét về án phí: Nguyên đơn chị H có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phù hợp với các nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H, cụ thể:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với anh Hồ Văn Tấn T.

Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung họ tên là Hồ Nguyễn Nhựt T1, sinh ngày 21/11/2013 và Hồ Thị Thuỷ T2, sinh ngày 05/9/2015. Sau khi ly hôn, hai con chung giao cho chị H trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H xác định không có tài sản chung, anh T không yêu cầu Toà án giải quyết về chia tài sản nên không giải quyết.

Về nợ chung: Chị H xác định không có nợ chung, anh T không đưa ra yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: Chị H có nghĩa vụ chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001280 ngày 20 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ