- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST Ngày 19-02-2024 “V/v Ly hôn giữa anh H và chị B” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thơm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thu Trang và bà Trần Thị Mộng Lành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mau - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 221/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện AM, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt).
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những ý kiến tại Tòa án anh Nguyễn Văn H trình bày như sau:
Anh Nguyễn Văn H (gọi tắt là anh H) và chị Nguyễn Thị Ngọc B (gọi tắt là chị B) chung sống với nhau vào năm 2017, hôn nhân tự nguyện có thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Thạnh, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang vào ngày 13 tháng 8 năm 2018 theo quy định.
Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi bất hòa, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung. Từ tháng 9 năm 2021 chị B đã tự ý bỏ nhà theo người đàn ông khác cho đến nay không trở về và vợ chồng đã sống ly thân được khoảng 03 năm. Nhận thấy không thể duy trì hôn nhân với chị B được nữa nên trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh H tiếp tục yêu cầu được ly hôn với chị B.
Về con chung: Anh H xác định vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 25/6/2018. Từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay con chung sống với anh H. Anh H có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung của vợ chồng: Anh H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung của vợ chồng: Anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa, bị đơn - chị Nguyễn Thị Ngọc B vắng mặt, không có yêu cầu phản tố và không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn H.
Việc thu thập chứng cứ: Nguyên đơn cung cấp Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); giấy căn cước công dân (Bản công chứng); giấy khai sinh cháu Nguyễn Ngọc Kim A (bản sao). Bị đơn không cung cấp chứng cứ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho anh H được ly hôn với chị B; về con chung đề nghị giao cháu Nguyễn Ngọc Kim A cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận ý kiến của anh H không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Tại phiên tòa chị B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt chị B.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ pháp luật: Anh H yêu cầu ly hôn với chị B và yêu cầu giải quyết về con chung khi ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.
Anh H và chị B chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Thạnh, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật, do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh H, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của đương sự và kết quả xác minh từ chính quyền địa phương có cơ sở xác định đời sống hôn nhân của anh H và chị B đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng không tìm cách hàn gắn hôn nhân mà chị B tự bỏ nhà đi đến nay đã 03 năm vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không còn muốn duy trì đời sống vợ chồng. Toà án đã mở phiên hoà giải đoàn tụ nhưng các đương sự không có thiện chí hàn gắn hôn nhân. Từ đó có cơ sở để nhận định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của anh H cho anh H ly hôn với chị B.
Về con chung: Anh H và chị B có một người con chung tên Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 25/6/2018. Từ khi vợ chồng ly thân con chung sống với anh H có cuộc sống ổn định và phát triển bình thường, hiện nay anh H có thu nhập để nuôi dưỡng con chung đồng thời chị Bcũng không có ý kiến phản đối việc anh H có nguyện vọng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyễn Ngọc Kim A cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng sau khi anh chị ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của anh H không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung của vợ chồng: Anh H xác định vợ chồng không có tài sản chung, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung của vợ chồng: Không ai có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ Điều 144 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc anh H là nguyên đơn chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và đề nghị hướng giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát huyện An Biên tại phiên tòa là có cơ sở và căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử đã xem xét và ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Ngọc B.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Kim A, sinh ngày 25/6/20218 cho anh Nguyễn Văn Hoàng tiếp tục nuôi dưỡng sau khi anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Ngọc B ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận ý kiến của anh Nguyễn Văn H không yêu cầu chị Nguyễn Thị Ngọc B phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung của vợ chồng: Anh Nguyễn Văn H xác định không có, các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung của vợ chồng: Anh Nguyễn Văn H xác định không có nợ chung và không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H có nghĩa vụ nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008867 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Anh Nguyễn Văn H đã nộp đủ án phí.
6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 19/02/2024, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự"./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - THADS huyện; - Các đương sự; - UBND xã Đông Thạnh; - Lưu, HS, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đinh Thị Thơm |