- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án DSST Kiều Ngọc Nh, Võ Thị Th - Kiều Thị L"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 105 Bộ luật Dân sự Áp dụng; Điều 116 Bộ luật Dân sự Áp dụng; Điều 117 Bộ luật Dân sự Áp dụng
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2024/DS-ST Ngày: 11/ 4/2024 V/v: Kiện đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Lịch và ông R Mah In ( Ama Ka)
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông,tỉnh Đắk Lắk.
-
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham
gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST- DS ngày 01 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ”, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Kiều Ngọc Nh và Võ Thị Th ( có mặt)
Trú tại: Thôn HX, HS, KB, Đắk Lắk
- Bị đơn: Kiều Thị L ( có mặt)
Địa chỉ: Thôn A, HS, KB, tỉnh Đắk Lắk
- Người làm chứng: Y T Dĩng ( văng mặt)
Địa chỉ: Buôn B, HS, KB, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN
Về số tiền: Vào ngày 19/12/2023, vợ chồng anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th bán 02 con bò cho anh Y T Dĩng được 22.500.000 đồng, nhưng do chưa sử dụng đến số tiền này nên khi cô Kiều Thị L là em gái anh Kiều Ngọc Nh nói mượn đỡ số tiền trên thì chị Võ Thị Th nhờ anh Y T Dĩng chuyển trực tiếp qua số tài khoản của cô Kiều Thị L là số xxxx xxx xxx tại Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Bưu Điện Liên Việt toàn bộ số tiền 22.500.000 đồng. Ngay khi chuyển tiền cho cô Kiều Thị L thành công, anh Y T Dĩng đã chuyển màn hình điện thoại việc chuyển tiền thành công gửi cho chị Võ Thị Th . Chị Võ Thị Th chuyển tin nhắn này qua cho cô Kiều Thị L và nhắn tin dặn: Khi nào việc gấp chị lấy báo nha, em cần công việc thì xở đi. Tuy nhiên, khi anh Kiều Ngọc Nh và chị Võ Thị Th có công việc cần lấy tiền thì chị Kiều Thị L không chuyển trả tiền và cho rằng: anh Kiều Ngọc Nh và chị Võ Thị Th lợi dụng ba mẹ tôi ( cũng là ba mẹ của anh Kiều Ngọc Nh ) già cả, không am hiểu về việc vay mượn với lãi suất cao đã âm thầm chở ba mẹ tôi đi cầm sổ đỏ ở ngoài để vay nóng. Khi biết chuyện, tôi đã báo cho anh em của tôi và bảo giữ số tiền lại không đưa cho vợ chồng anh Kiều Ngọc Nh - chị Võ Thị Th . Hiện tại bây giờ anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th đã cầm sổ đỏ của ba mẹ chúng tôi với số tiền 80.000.000 đồng ở anh K, chị N tại khối A, thị trấn KK, KB, tỉnh Đắk Lắk với lãi suất 2.000 đ/ngày. Bốn mươi triệu với lãi suất bốn triệu tám trên một tháng. Với số tiền 22.500.000 đồng này, chị em tôi đồng thống nhất không trả cho chị Võ Thị Th - anh Kiều Ngọc Nh với điều kiện khi nào mang sổ về trả cho ba mẹ thì tôi trả tiền lại.
Trong 22.500.000đồng, năm 2019, vợ chồng chị Võ Thị Th làm nhà , tôi cho mượn 10.000.000 đồng, cu B mượn 1.200.000 đồng, anh Kiều Ngọc Nh mượn 700.000 đồng, cu T mượn 400.000 đồng. Tổng cộng là 12.300.000đồng với 300.000 đồng đi đám nhà mới dùm cho chị Võ Thị Th mới đây. Tổng cộng là 12.600.000 đồng. Trong 12.600.000 đồng, tôi cho cu B phẩu thuật mũi 3.000.000 đồng, trả nợ cho chị Th là 2.000.000 đồng. Tổng hết 5.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 13.400.000đồng khi nào anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th lấy sổ về cho ba mẹ thì tôi sẽ trả lại.
Tại buổi hoà giải ngày 05/3/2021, anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th chỉ chấp nhận trả cho chị Kiều Thị L số tiền 1.000.000 đồng , trong đó có 700.000đồng chị Kiều Thị L cho anh Kiều Ngọc Nh nhưng giờ chị Kiều Thị L lấy lại thì anh Kiều Ngọc Nh và chị Võ Thị Th đồng ý trả lại và số tiền 300.000 đồng gửi đám nhà mới. Đối với các khoản tiền khác, anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th không đồng ý nhất là số tiền cô Kiều Thị L cho cu Bảo và cu T mượn. Vì các con đã lớn nên cô Kiều Thị L cho mượn thì tự đi đòi cu B và cu T.
Tại các buổi làm việc ngày 05/3/2024 và ngày 19/3/2024, Thẩm phán đã giải thích và hướng dẫn chị Kiều Thị L làm đơn khởi kiện và nộp các tài liệu, chứng cứ kèm theo yêu cầu khởi kiện của mình . Tuy nhiên, chị Kiều Thị L đã không làm đơn yêu cầu khởi kiện, không cung cấp các thông tin liên quan đến lời trình bày của mình theo quy định của pháp luật .
Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/4/2024, anh Y T Dĩng trình bày: Tôi không có quan hệ gì với chị Kiều Thị L, anh Kiều Ngọc Nh và chị Võ Thị Th . Ngày 19/12/2023, tôi mua của anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th 02 con bò với giá 22.500.000 đồng, chị Võ Thị Th đưa số tài khoản của chị Kiều Thị L và bảo tôi chuyển tiền vào tài khoản đấy. Ngay khi chuyển tiền thành công, tôi đã chuyển màn hình cho chị Võ Thị Th , còn việc vay mượn giữa họ như thế nào tôi không biết.
Về tiền lãi: Anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th không yêu cầu tính lãi nên không đặt ra để giải quyết
Vè án phí: Anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th và chị Kiều Thị L dề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật
Tại phiên toà:
Anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết buộc chị Kiều Thị L trả lại số tiền là 22.500.000 đồng – 1.000.000 đồng = 21.500.000 đồng
Chị Kiều Thị L đồng ý trả cho anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th số tiền 21.500.000 đồng nhưng do hiện nay đang khó khăn nên đề nghị mỗi tháng trả cho anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th số tiền 4.000.000 đồng
Anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th không đồng ý đề nghị của chị Kiều Thị L là mỗi tháng trả 4.000.000 đồng
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp, những người tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập chứng cứ, hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu Thẩm phán đã chấp hành đúng với quy định tại Điều 48 BLTTDS và tiến hành các hoạt động tố tụng khác khi giải quyết vụ án theo đúng quy định của BLTTDS; Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc trường hợp phải thay đổi, việc hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục tống đạt được đảm bảo đúng các quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm.
Về nội dung: Ngày 19/12/2023, chị Võ Thị Th đã nhờ anh Y T Dĩng chuyển cho chị Kiều Thị L số tiền là 22.500.000 đồng. Hẹn khi nào cần thì sẽ lấy lại. Tuy nhiên, khi anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th có việc cần nên đã đến nhà chị Kiều Thị L yêu cầu trả tiền thì chị Kiều Thị L không trả . Quá trình giải quyết vụ án, anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th chấp nhận trừ số tiền trước đó chị Kiều Thị L cho anh Kiều Ngọc Nh 700.000 đồng và 300.000 đồng chị Võ Thị Th nhờ chị Kiều Thị Lan gửi đám nhà mới. Tổng cộng là 1.000.000 đồng. Do vậy, việc anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th yêu cầu chị Kiều Thị L trả số tiền 21.500.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Kiều Ngọc Nh - chị Võ Thị Th. Buộc chị Kiều Thị L có nghĩa vụ trả cho anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th số tiền là 21.500.000 đồng
Về tiền lãi: Chị Võ Thị Th và anh Kiều Ngọc Nh không yêu cầu tính lãi nên không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của đương sự cũng như qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn ( Kiều Ngọc Nh và Võ Thị Th ) yêu cầu Tòa án giải quyết “ Kiện đòi tài sản ” đối với bị đơn ( Kiều Thị L ) . Các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại xã HS , huyện KB, Đăk Lăk. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án: Ngày 19/12/2023, chị Võ Thị Th nhờ anh Y T Dĩng chuyển cho chị Kiều Thị L số tiền 22.500.000 đồng. Khi chị Võ Thị Th - anh Kiều Ngọc Nh cần thì chị Kiều Thị L chuyển trả lại. Tuy nhiên, khi chị Võ Thị Th - anh Kiều Ngọc Nh cần tiền và yêu cầu chị Kiều Thị L trả số tiền trên thì chị Kiều Thị L không trả. Quá trình giải quyết vụ án, anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th chấp nhận trừ số tiền trước đó chị Kiều Thị L cho anh Kiều Ngọc Nh 700.000 đồng và 300.000 đồng chị Võ Thị Th nhờ chị Kiều Thị L gửi đám nhà mới. Tổng cộng là 1.000.000 đồng. Do vậy, việc anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th yêu cầu chị Kiều Thị L trả số tiền 21.500.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về tiền lãi: Anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th không yêu cầu tính lãi nên không đặt ra để giải quyết
Đối với lời trình bày của chị Kiều Thị L cho rằng anh Kiều Ngọc Nh – chị Võ Thị Th lấy sổ đỏ của ba mẹ để đi cầm cho người ta để vay nóng cũng như việc chị Kiều Thị L trình bày, anh Kiều Ngọc Nh - chị Võ Thị Th nợ chị Kiều Thị L số tiền 12.600.000 đồng, chỉ có 1.000.000 đồng anh Kiều Ngọc Nh - chị Võ Thị Th chấp nhận trả cho chị Kiều Thị L còn lại 11.600.000 đồng, chị Kiều Thị L không làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết và nộp các tài liệu, chứng cứ ( nếu có) theo quy định của pháp luật. Do vậy không đặt ra để giải quyết.
Về tiền lãi: Anh Kiều Ngọc Nh và chị Võ Thị Th không yêu cầu tình lãi nên không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Do vậy, cần buộc bị đơn (Kiều Thị L ) phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm là 21.500.000 đ x 5 % = 1.075.000 đồng
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 ; Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 105; 116; 117; 119; 120; 166 và Điều 194 Bộ luật Dân sự
Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ( Kiều Ngọc Nh và Võ Thị Th ).
Buộc bị đơn ( Kiều Thị L ) có nghĩa vụ trả cho anh Kiều Ngọc Nh và chị Võ Thị Th số tiền 21.500.000 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ ( Kiều Thị L ) chậm trả tiền thì bên đó ( Kiều Thị L ) phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự .
Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Th - anh Kiều Ngọc Nh về việc buộc chị Kiều Thị L trả số tiền 1. 000.000 đồng
2. Về án phí: Chị Kiều Thị L phải chịu trách nhiệm nộp 1.075.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm .
Trả lại cho anh Kiều Ngọc Nh và chị Võ Thị Th số tiền tạm ứng án phí là 563.000 đồng theo biên lai số 0007016 ngày 31/01/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND H. Krông Bông; - Chi cục THADS; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | ( đã ký) Trương Thị Huế |