- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tr"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị L đối với bị đơn bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Ngọc L1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2024/DS-ST Ngày: 27 - 8 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ TẺH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Ông Lê Tiến Dũng:
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Trọng Hà
Bà Trịnh Thị Thủy
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dư Thị Kiều Uyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện Đạ Tẻh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/QĐST-DS ngày 18/7/2024 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐST-DS ngày 08/8/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “ Có mặt”.
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1963, anh Huỳnh Ngọc L1, sinh năm 1988. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.“Vắng mặt lần 2 không có lý do”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn là bà Phạm Thị L trình bày:
Ngày 22/8/2023 bà Phạm Thị L có cho bà Huỳnh Thị N và con trai là Huỳnh Ngọc L1 vay số tiền 7.400.000.000 đồng (Bảy tỷ bốn trăm triệu đồng), đến ngày 31/8/2023 bà N và anh L1 phải trả số tiền 5.500.000.000 đồng (Năm tỷ năm trăm triệu đồng) và đến ngày 30/12/2023 phải trả cho bà số tiền còn lại. Đến ngày 31/8/2023 bà N có trả cho bà số tiền 3.400.000.000 đồng (Ba tỷ bốn trăm triệu đồng), số tiền còn lại là 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng). Đến ngày 07/5/2024 bà N và con trai là Huỳnh Ngọc L1 có đến vay bà thêm số tiền 1.450.000.000 đồng để đảo vốn ngân hàng. Cộng cả nợ mới và nợ cũ là 5.450.000.000 đồng (Năm tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng), thời gian trả nợ trong vòng 5 ngày kể từ ngày 07/5/2024 .
Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc mẹ con bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Thanh L2 có phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà số tiền là 5.450.000.000 đồng (Năm tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.
Trong quá trình tố tụng Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn mẹ con bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Ngọc L1 nhưng bà N, anh L1 không nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và bị đơn bà N, anh L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp trong vụ án:
Xuất phát từ việc bà Phạm Thị L khởi kiện mẹ con bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Ngọc L1 về việc mẹ con bà N, anh L1 có vay tiền của bà nhưng đến hẹn không trả nên phát sinh phát sinh tranh chấp. Bị đơn mẹ con bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Ngọc L1 có địa chỉ tại Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là: “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.2. Bị đơn mẹ con bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Ngọc L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Thị L đã cung cấp tài liệu, chứng cứ là bản chính giấy vay tiền ngày 22/8/2023 và ký tên Huỳnh Thị N, Huỳnh Ngọc L1 trong đó nội dung thể hiện việc bà N, anh L1 có vay của bà L số tiền là 7.400.000.000 đồng (Bảy tỷ bốn trăm triệu đồng), thỏa thuận đến ngày 31/8/2023 trả 5.500.000.000 đồng (Năm tỷ năm trăm triệu đồng, số tiền còn lại 1.900.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm triệu đồng) hẹn đến ngày 30/12/2023 và giấy vay ngày 07/5/2024 là cộng nợ cũ 4.000.000.000 đồng và tiền vay thêm 1.450.000.000 đồng. Cộng cả nợ mới và nợ cũ là 5.450.000.000 đồng (Năm tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng), thời gian trả nợ trong vòng 5 ngày kể từ ngày 07/5/2024 .
Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án cũng như các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho mẹ con bà N, anh L1 nhưng mẹ con bà N, anh L1 không nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà L cũng như không nộp bất kì tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho việc mình không vay hoặc đã trả xong cho bà L. Theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh do một bên đương sự không có yêu cầu phản đối. Vì vậy việc bà L căn cứ vào giấy vay tiền ngày 22/8/2023 và giấy vay tiền ngày 07/5/2024 để khởi kiện mẹ con bà N, anh L1 là hoàn toàn có cơ sở.
Xét thấy tại vay tiền ngày 22/8/2023 và giấy vay tiền ngày 07/5/2024 thể hiện số tiền mẹ con bà N, anh L1 đã vay của bà L và thời hạn trả nợ. Căn cứ các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và việc bà L khởi kiện mẹ con bà N, anh L1 yêu cầu mẹ con bà N, anh L1 phải trả số tiền 5.450.000.000 đồng (Năm tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Phạm Thị L buộc bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Ngọc L1 có nghĩa vụ liên đới phải trả cho bà L số tiền 5.450.000.000 đồng (Năm tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng).
Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn bà Phạm Thị L không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn bà Huỳnh Thị N (tuy trên 60 tuổi) nhưng không có đơn xin miễn án phí, nên bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Ngọc L1 phải có trách nhiệm liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của vụ án là 113.450.000 đồng (Một trăm mười ba triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị L đối với bị đơn bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Ngọc L1.
Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Ngọc L1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Phạm Thị L số tiền là 5.450.000.000 đồng (Năm tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng).
“ Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015”.
2. Về án phí: Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị N, anh Huỳnh Ngọc L1 phải có trách nhiệm liên đới nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 113.450.000 đồng (Một trăm mười ba triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Hoàn trả lại số cho bà Phạm Thị L số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 56.725.000 đồng (Năm mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0007964 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.
3. Về nghĩa vụ Thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện huyện Đạ Tẻh; - Chi cục THADS huyện Đạ Tẻh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tiến Dũng |