vanban.org

Bản án 07/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217; khoản 2 Điều 227; Điều 271, Điều 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 463; Điều 465; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - phòng giao dịch huyện Châu Thành về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Danh P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam-phòng giao dịch Châu Thành khởi kiện ông Danh P, bà Thị T"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217; khoản 2 Điều 227; Điều 271, Điều 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/DS-ST
Ngày: 17/4/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Đẩu

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Khƣơng

2. Ông Nguyễn Thành Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang: Ông Nguyễn Thế Nam - Chức vụ: Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 179/2023/TLST-DS, ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.

Địa chỉ: Số 169 phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Thắng- Chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh L – Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH huyện Châu Thành (có mặt)

Địa chỉ: Số .. Khu phố ML, thị trấn ML, huyện CT, tỉnh KG.

* Bị đơn: Ông Danh P, sinh năm: 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp MP, xã BA, huyện CT, tỉnh KG

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Thị T, sinh năm: 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp MP, xã BA, huyện CT, tỉnh KG

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai, biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh L trình bày:

Hộ gia đình ông Danh P có vay vốn tại phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội (PGD NHCSXH) huyện Châu Thành theo khế ước 6000005800029761, cụ thể như sau:

- Chương trình cho vay: Cho vay đồng bào DTTS nghèo ĐBSCL;

- Số tiền vay: 10.000.000 đồng

- Lãi suất vay: 0%/tháng

- Ngày vay 13/11/2010; ngày đến hạn 09/9/2013;

- Mục đích vay: Mua võ máy cào hến;

- P thức vay thông qua sổ tiết kiệm và vay vốn

Hộ vay phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích, dùng các nguồn thu nhập của gia đình để trả nợ đầy đủ, đúng hạn và chấp hành các quy định cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội.

Ngày 09/9/2013 khoản vay của hộ gia đình ông Danh P đến hạn trả tiền gốc là 10.000.000 đồng do kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn đã xin gia hạn, PGD NHCSXH huyện Châu Thành đã cho gia hạn đến ngày 09/3/2017 nhưng hộ gia đình ông Danh P không thực hiện việc trả nợ theo quy định, ngày 25/11/2017 hộ gia đình ông Danh P được PGD NHCSXH khoanh nợ đến ngày 25/11/2022, đến ngày 25/11/2022 khoản vay chuyển nợ quá hạn.

Nhận thấy ý thức chấp hành của hộ vay kém nên Ban lãnh đạo ấp, UBND xã Bình An nhiều lần mời làm việc và đến nhà động viên cho hộ vay trả nợ nhưng hộ vay không chấp hành việc trả nợ.

Tính đến ngày 17/4/2024 thì ông Danh P và bà Thị T còn nợ phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Châu Thành số tiền 10.000.0000 đồng

Tại phiên toà hôm nay ông Nguyễn Thanh L yêu cầu: Yêu cầu ông Danh P và bà Thị T trả cho Ngân hàng số tiền là 10.000.000 đồng. Ngoài ra, ông không yêu cầu gì thêm.

* Bị đơn ông Danh P và bà Thị T đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành nêu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và người tham gia tố tụng trong vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm nghị án tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - phòng giao dịch huyện Châu Thành về việc buộc ông Danh P và bà Thị T phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện Châu Thành số tiền 10.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam-phòng giao dịch huyện Châu Thành thực hiện quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

[2] - Về sự có mặt của đương sự: Bị đơn ông Danh P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Thị T đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản theo đúng quy định nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Danh P và bà Thị T.

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam-phòng giao dịch huyện Châu Thành yêu cầu buộc ông Danh P và bà Thị T phải trả cho ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng. Nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về việc vay tài sản”.

- Về nội dung vụ án: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam-phòng giao dịch huyện Châu Thành yêu cầu buộc ông Danh P và bà Thị T phải trả cho ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng; Bị đơn ông Danh P và bà Thị T trong suốt quá trình giải quyết vụ án thì đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản theo đúng quy định nhưng ông Danh P và bà Thị T vẫn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

- Hội đồng xét xử xét thấy: Theo khế ước 6600000580002961 ngày 13/11/2010, chương trình cho vay theo chương trình cho vay đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ĐBSCL với số tiền cho vay là 10.000.000 đồng; Lãi suất 0%/tháng; Ngày vay 13/11/2010, ngày đến hạn 09/9/2013; Mục đích vay: Mua vỏ máy cào hến; P thức vay: Thông qua sổ tiết kiệm và vay vốn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và phù hợp theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản. Quá trình thực hiện hợp đồng thì Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - phòng giao dịch huyện Châu Thành đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đã giải ngân số tiền vay cho hộ ông Danh P và bà Thị T và hộ ông Danh P và bà Thị T đã nhận được tài sản nhưng kể từ ngày 09/9/2013 và các lần xin được gia hạn vào các ngày 09/3/2017; Ngày 25/11/2017; Ngày 25/11/2022 và cho đến nay thì phía ông Danh P và bà Thị T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền cho ngân hàng. Như vậy, hộ ông Danh P và bà Thị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ; Hộ ông Danh P và bà Thị T đã nhận đầy đủ số tiền vay thì phải có nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 463 và 465 Bộ luật dân sự.

- Từ những căn cứ nhận định trên Hội đồng xét xử T nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - phòng giao dịch huyện Châu Thành đối với bị đơn hộ ông Danh P và bà Thị T. Buộc bị đơn ông Danh P và bà Thị T phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - phòng giao dịch huyện Châu Thành số tiền là 10.000.000 đồng

- Xét quan điểm của đại viện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận nên ghi nhận để xem xét.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị đơn ông Danh P và bà Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 250.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217; khoản 2 Điều 227; Điều 271, Điều 273 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 463; Điều 465; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - phòng giao dịch huyện Châu Thành về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Danh P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Thị T.

2. Buộc bị đơn ông Danh P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Thị T phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam - phòng giao dịch huyện Châu Thành số tiền 10.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiê ̣u lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả số tiền nêu trên thì còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí: Buộc bị đơn ông Danh P và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Thị T phải nộp án phi dân sự sơ thẩmlà 250.000 đồng.

́

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ