- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Phạm Văn Lưu - Ban quản lý cảng Bến Đầm"
- Tòa quyết gì? 38 Bộ luật Lao động năm 2012; khoản 1, khoản 2 Điều 29 Luật Viên chức; Điều 12,
- Căn cứ chính? Điều 29 Luật Viên chức; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 07/2023/LĐ-PT Ngày: 21/04/2023 |
“V/v: Tranh chấp Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: - Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quang - Các thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Châu Ông Trương Văn Tâm Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Nguyễn Thị Hà Vy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: ông Vũ Duyên Trường – Kiểm sát viên. Ngày 21 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 02/2022/TLPT-DS ngày 04-11-2022 về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, do bản án lao động sơ thẩm số 03/2022/LĐ-ST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện CĐ bị kháng cáo; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐ-PT ngày 13/3/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐ-PT ngày 30-3-2023 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1983. Địa chỉ: 22 L, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt). Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Sỹ T, sinh năm: 1967 . Địa chỉ: 29/1/2 Đ, phường P, thành phố X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt). Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Sỹ T: Ông Nguyễn Đăng K, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Khu dân cư số 6, huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt). (Theo Hợp đồng ủy quyền lập ngày 04/5/2022 tại Văn phòng công chứng Châu Á) Bị đơn: Ban quản lý Cảng BĐ Địa chỉ: Khu dân cư số 10, huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Công T1 - Chức vụ: Phó Giám đốc Người đại diện theo ủy quyền: 1. Ông Lê Đức H, sinh năm: 1973 - Chức vụ: Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính Ban quản lý Cảng BĐ (có mặt).
2. Ông Nguyễn Đình T2, sinh năm: 1982 - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính Ban quản lý Cảng BĐ (có mặt). (Theo Giấy ủy quyền số 08/GUQ-BQL ngày 16 tháng 3 năm 2023) Người kháng cáo: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Phạm Văn L, người đại diện theo ủy quyền ông Bùi Sỹ Tiền và ông Nguyễn Đăng K trình bày: Ngày 25-02-2015, ông Phạm Văn L và Ban quản lý Cảng Bến Đầm ký Hợp đồng lao động số 15/HĐLĐ không xác định thời hạn. Công việc ông L phải thực hiện theo Hợp đồng là Thợ máy tàu CĐ 10. Trong quá trình làm việc, ông L luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt công việc được giao. Ngày 05/10/2020, ông L nhận được Thông báo số 73/TB-BQL ngày 05/10/2020 của Ban quản lý Cảng BĐ về việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức thuyền viên tàu CĐ 10 với lý do tàu CĐ 10 ngưng hoạt động theo chủ trương của Ủy ban nhân dân huyện CĐ. Ngày 12/10/2020, ông Bùi Sỹ T đại diện cho các thành viên tàu CĐ 10 gửi đơn kiến nghị đến Ban quản lý cảng BĐ. Ngày 04/11/2020, Ban quản lý cảng BĐ trả lời đơn kiến nghị của ông T tại công văn số 313/BQL với nội dung không chấp nhận nội dung kiến nghị của ông T và các thuyền viên. Ngày 24/11/2020, Ban quản lý cảng BĐ ra Quyết định số 168/QĐ-BQL (Viết tắt QĐ 168) chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức (ông L) với lý do: Ban quản lý cảng BĐ đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức vì “...lý do bất khả kháng theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đảm nhận không còn”. Không đồng ý với quyết định, ngày 10/12/2020 ông L có đơn khiếu nại QĐ 168. Ngày 31/12/2020, Ban quản lý Cảng BĐ ra Quyết định số 211/QĐ-BQL về việc giải quyết khiếu nại của ông L (lần đầu) với nội dung: Giữ nguyên QĐ số 168 ngày 24/11/2020 của Ban quản lý Cảng BĐ về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức. Căn cứ công văn số 3054/BNV-CTBC ngày 19/6/2020 của Bộ Nội vụ về việc thực hiện chính sách tinh giản nhân sự tàu CĐ 10 thuộc Ban quản lý Cảng BĐ trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện CĐ (viết tắt UBND huyện CĐ) thì trường hợp của các ông và các thuyền viên khác sẽ được hưởng chế độ chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định 108/2014/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ. Cùng với đó, tại Văn bản số 3966/UBND- NVLĐTB&XH ngày 09/12/2019, UBND huyện CĐ đã xác định các thuyền viên tàu Côn Đảo 10 là viên chức dôi dư theo Văn bản 795/SNV- CCVC ngày 29/6/2020 của Sở Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ chính sách tinh giản nhân sự tàu CĐ 10. Tuy nhiên, ngày 04/11/2020 BQL Cảng BĐ trả lời tại công
văn số 313/BQL cho ông Bùi Sỹ T với nội dung là công văn 3054/BNV-TCBC và công văn 795/SNV-CCVC không phải văn bản quy phạm pháp luật (không phải cơ sở để thực hiện chính sách tinh giản biên chế thuyền viên tàu CĐ 10) mà là văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách biên chế của Sở nội vụ (trích dẫn điểm a khoản 1, 2 Điều 6 Nghị định 108/2014/NĐ-CP) và vẫn giữ nguyên quyết định cho ông L và các thuyền viên khác nghỉ việc. Ông L cho rằng BQL Cảng BĐ áp dụng điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức để đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông là không đúng quy định của pháp luật, bởi vì Ban quản lý Cảng BĐ đã biết trước và lường trước được tàu CĐ 10 sẽ bị chấm dứt hoạt động kể từ ngày 01/4/2020 nên không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng. Ngoài ra, trong thời gian chờ thanh lý tàu CĐ 10 Ban quản lý cảng BĐ có đủ thời gian để xây dựng Đề án sắp xếp, tổ chức lại bộ máy của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012, tuy nhiên Ban quản lý cảng BĐ cố tình không thực hiện dẫn đến ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông. Nếu Ban quản lý cảng Bến Đầm xây dựng đề án thì ông và các nguyên đơn khác thuộc trường hợp viên chức dôi dư và khi nghỉ việc sẽ được hưởng chế độ chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 6 của Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014. Ban quản lý cảng BĐ không thực hiện đúng các quy định nêu trên mà ban hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông là trái quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông. Do vậy, ông L khởi kiện với các yêu cầu như sau: 1. Hủy quyết định 168/QĐ-BQL ngày 24/11/2020 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với với ông Phạm Văn L; 2. Nhận ông Phạm Văn L trở lại làm việc; 3. Trả tiền lương những ngày không được làm việc đối với ông L cụ thể như sau: - 06 ngày làm việc (từ ngày 25-30/11/2020) số tiền: 273.930 đồng x 6 ngày = 1.643.580 đồng. - Từ ngày 01/12/2020 đến ngày 25/7/2022 số tiền: 7.122.200 đồng x 18 tháng 25 ngày = 135.047.850 đồng; 4. Bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, số tiền: 7.122.200 đồng x 02 tháng = 14.244.400 đồng; 5. Đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN cho ông L theo quy định (Tạm tính từ ngày 25/11/2020 đến ngày 25/7/2022) số tiền: 7.122.200 đồng x 21,5% x 19 tháng = 29.094.187 đồng; Tổng cộng số tiền ông L yêu cầu là 180.030.017 đồng. Bị đơn Ban quản lý Cảng BĐ và người đại diện theo ủy quyền ông Lê Đức H và ông Nguyễn Đình T2 cùng thống nhất trình bày: Ban Quản lý Cảng BĐ được thành lập theo Quyết định số 5041/QĐ.UB ngày 30-10-2000 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Quyết định số 1155/QĐ-UBND
ngày 02-4-2007 về việc sửa đổi Quyết định số 5041/QĐ.UB ngày 30-10-2000 của UBND tỉnh về việc thành lập Ban Quản lý Cảng BĐ huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo. Ban Quản lý Cảng Bến Đầm xác nhận đã ban hành Quyết định số 168/QĐ-BQL ngày 24/11/2020 đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông L như ông L trình bày là đúng. Với lý do “...lý do bất khả kháng theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đảm nhận không còn” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức. Đội tàu khách (CĐ 09 và tàu CĐ 10) do BQL Cảng BĐ quản lý lần lượt được đưa vào sử dụng vào năm 1999 và năm 2002, làm nhiệm vụ vận chuyển hành khách đường biển tuyến Vũng Tàu - CĐ và ngược lại theo chỉ tiêu kế hoạch huyện CĐ giao hàng năm và được Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (viết tắt UBND tỉnh BR-VT) trợ giá vé (bù lỗ) trong quá trình hoạt động thực tế. Sau gần 20 năm khai thác động cơ, trang thiết bị, tiện nghi đã lạc hậu, chi phí cao nay lại hoạt động trong điều kiện cạnh tranh với các tàu đóng mới hiện đại của các hãng tư nhân, nên cả hai tàu đã không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch được giao. Do vậy, UBND huyện CĐ đã chỉ đạo chấm dứt hoạt động tàu CĐ 09 kể từ ngày 01/03/2019, theo đó ngày 15/5/2019, Ban Quản lý cảng BĐ đã ban hành các Quyết định về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức là thuyền viên tàu CĐ 09. Đối với tàu CĐ 10: Ban Quản lý Cảng BĐ căn cứ vào các văn bản chỉ đạo sau để tiến hành các thủ tục liên quan đến việc ngưng hoạt động của tàu CĐ 10 và giải quyết nhân sự tàu CĐ 10 như sau: Theo Thông báo 21/TB-UBND ngày 20/01/2020 của Chủ tịch UBND huyện CĐ có chủ trương ngưng hoạt động và giải quyết nhân sự tàu CĐ 10 kể từ ngày 01/4/2020. Thực hiện Thông báo trên, ngày 21/02/2020, Phòng Nội vụ Lao động Thương binh và xã hội huyện CĐ ban hành Hướng dẫn số 108/NVLĐTB&XH về việc thực hiện chính sách nghỉ việc đối với viên chức tàu CĐ 10. Ngày 10/4/2020, UBND huyện CĐ ban hành Thông báo số 1155/UBND- NVLĐTB&XH về một số nội dung về giải quyết nhân sự khi thực hiện thanh lý tàu CĐ 10. Ngày 14/8/2020, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã thống nhất chủ trương ngưng hoạt động của tàu CĐ 10 tại Thông báo số 548/TB-UBND thông báo kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Ngọc Khánh tại cuộc họp nghe báo cáo tình hình hoạt động của tàu CĐ 10. Ngày 21/8/2020, UBND huyện Côn Đảo có Thông báo 329/TB-UBND thông báo kết luận tại cuộc họp làm việc với Ban Quản lý cảng BĐ. Theo đó, UBND huyện yêu cầu Ban Quản lý cảng BĐ hoàn thành việc giải quyết nhân sự tàu CĐ 10 vào giữa quý IV năm 2020. Thực hiện các văn bản nêu trên của cấp có thẩm quyền về việc ngưng hoạt động tàu CĐ 10 và căn cứ vào các quy định có liên quan, Ban Quản lý cảng BĐ đã triển
khai quy trình giải quyết nhân sự tàu CĐ 10 như sau: Ngày 14/4/2020, Ban Quản lý cảng BĐ ban hành Thông báo số 32/TB-BQL về việc triển khai chủ trương chấm dứt hoạt động tàu CĐ 10 và giải quyết chế độ nghỉ việc đối với nhân sự là thuyền viên tàu CĐ 10. Ngày 31/8/2020, Ban Quản lý cảng BĐ đã có buổi làm viêc với thuyền viên tàu CĐ 10 về việc Thông báo chủ trương ngưng hoạt động của tàu CĐ 10 và giải quyết chế độ thôi việc cho thuyền viên (thành phần tham dự cuộc họp gồm Đảng ủy Ban Quản lý cảng BĐ; Ban Giám đốc; Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở; Lãnh đạo phòng Tổ chức - Hành chính; Lãnh đạo phòng Kế hoạch - Điều độ; cùng toàn thể thuyền viên tàu CĐ 10). Tại cuộc họp, Giám đốc Ban Quản lý cảng BĐ đã thông báo đến toàn thể viên chức là thuyền viên tàu CĐ 10 biết: Đơn vị sẽ thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với thuyền viên tàu CĐ 10 theo quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 29, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 “Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn” và giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho thuyền viên tàu CĐ 10 theo quy định tại Điều 39 của Nghị định 29/2012/NĐ của Chính phủ ngày 12/4/2012. Ngày 05/10/2020, Ban Quản lý cảng BĐ đã ban hành Thông báo số 73/TB- BQL về việc việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức là thuyền viên tàu CĐ 10. Theo nội dung thông báo, Ban Quản lý cảng BĐ sẽ thực hiện đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức là thuyền viên tàu CĐ 10 kể từ ngày 25/11/2020. Không thống nhất với việc đơn vị đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với thuyền viên tàu CĐ 10, cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của thuyền viên tàu CĐ 10 bị vi phạm nên ông Bùi Sỹ T (thuyền viên tàu CĐ 10) đã đại diện cho tập thể thuyền viên tàu CĐ 10 có đơn kiến nghị ngày 12/10/2020 gửi Phòng NVLĐTB& XH huyện CĐ. Thực hiện công văn số 770/NVLĐTB&XH ngày 27/10/2020 của Phòng NVLĐTB&XH huyện CĐ về việc chuyển đơn kiến nghị của ông Bùi Sỹ T, Ban Quản lý cảng BĐ có công văn số 313/BQL ngày 04/11/2020 về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Bùi Sỹ T. Ngày 24/11/2020, Ban quản lý cảng BĐ ban hành Quyết định số 168/QĐ-BQL về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức (ông Phạm Văn L – Thợ máy tàu CĐ 10). Không đồng ý với quyết định 168, ngày 10/12/2020 ông L có đơn khiếu nại Quyết định 168. Ngày 31/12/2020, Ban Quản lý Cảng BĐ ban hành Quyết định số 211/QĐ-BQL về việc giải quyết khiếu nại của ông L (lần đầu) với nội dung: Giữ nguyên Quyết định số 168 ngày 24/11/2020 của Ban Quản lý Cảng BĐ về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức. Như vậy, nếu tính từ ngày 05/10/2020 cho đến ngày 24/11/2020 (thời điểm ban hành Quyết định số 168/QĐ-BQL ngày 24/11/2020), đã hơn 45 ngày.
Sau khi chấm dứt hợp đồng làm việc với ông L, Ban Quản lý cảng BĐ đã thanh toán đầy đủ chế độ thôi việc cho ông L đúng quy định pháp luật và ông L đã nhận được khoản tiền này qua chuyển khoản vào tài khoản của ông L. Vì lý do hoạt động không hiệu quả nên UBND huyện CĐ đã quyết định ngưng hoạt động và giải quyết nhân sự tàu CĐ 10 kể từ ngày 01/4/2020. Trường hợp tàu CĐ 10 ngưng hoạt động và thanh lý thuộc trường hợp bất khả kháng vì nó xảy ra một cách khách quan do có sự thay đổi quy định, cơ chế chính sách của UBND tỉnh, UBND huyện trong quản lý và khai thác tàu CĐ 10 và sự thay đổi này là không lường trước được khi hai bên ký kết Hợp đồng lao động. Hoạt động tàu CĐ 10 không hiệu quả là do thay đổi về cơ chế, chính sách trong quản lý và khai thác tàu, với vị trí là đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động trực thuộc UBND huyện CĐ, Ban Quản lý cảng BĐ phải chấp hành quyết định ngưng hoạt động tàu CĐ 10 của cấp có thẩm quyền cũng như không có khả năng, biện pháp nào khắc phục để duy trì hoạt động tàu CĐ 10. Như vậy, tàu CĐ 10 ngưng hoạt động và thanh lý là vì lý do bất khả kháng dẫn đến đơn vị phải thu hẹp quy mô hoạt động khiến vị trí việc làm của các thuyền viên tàu CĐ 10 đảm nhiệm không còn. Vì vậy, điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức; khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự và điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động, Ban Quản lý cảng Bến Đầm đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với các thuyền viên tàu CĐ 10 là đúng quy định của pháp luật. Về ý kiến của ông L và các thuyền viên khác cho rằng mình được hưởng chế độ chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014, Ban Quản lý cảng BĐ có ý kiến như sau: Tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 108 quy định: “a) Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự”, căn cứ quy định trên thuyền viên tàu CĐ 10 không thuộc đối tượng tinh giản biên chế theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 108 mà thuộc đối tượng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức. Về công văn số 3054/BNV-CTBC ngày 19/6/2020 của Bộ Nội vụ: Qua nghiên cứu văn bản trên, Ban Quản lý cảng BĐ
nhận thấy: Công văn này không phải là văn bản quy phạm pháp luật (làm căn cứ áp dụng chế độ tinh giản biên chế cho thuyền viên tàu CĐ 10). Tại công văn Bộ Nội vụ trích dẫn điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị định 108/2014/NĐ-CP “...đề nghị Sở Nội vụ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu căn cứ quy định trên để tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chính sách tinh giản biên chế cho phù hợp”. Công văn này là văn bản hướng dẫn chung cho việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế, không phải áp dụng riêng đối với các thuyền viên tàu CĐ 10. Từ những trình bày trên đây, Ban Quản lý cảng BĐ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện CĐ bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản án lao động sơ thẩm số 03/2022/LĐ-ST ngày 03/8/2022, Tòa án nhân dân huyện CĐ đã quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L với Ban quản lý cảng BĐ. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí lao động sơ thẩm, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định. Ngày 17/8/2022, ông Phạm Văn L (do ông Nguyễn Đăng K đại diện đứng đơn kháng cáo) có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm: 1. Hủy một phần Bản án sơ thẩm số 03/2022/LĐ-ST ngày 03/8/2022, của Tòa án nhân dân huyện CĐ theo hướng: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L đối với bị đơn Ban Quản lý cảng BĐ, buộc Ban Quản lý cảng BĐ nhận ông trở lại làm việc và bồi thường các khoản do đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trái pháp luật. 2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Tòa án cho thay đổi yêu cầu bị đơn giải quyết cho ông L thôi việc theo diện tinh giản biên chế do dôi dư quy định tại Nghị định số 108/2014/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ. 3. Đề nghị Tòa phúc thẩm tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ từ UBND huyện CĐ hoặc Ban Quản lý cảng BĐ, gồm: Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019 của UBND huyện CĐ; Văn bản số 3966/UBND-NVLĐTB&XH của UBND huyện Cần Đảo; Phương án/Đề án sắp xếp tổ chức lại bộ máy và tinh giản biên chế của Ban Quản lý cảng BĐ theo chỉ đạo của UBND huyện CĐ tại Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019; Quy chế trả lương của Ban Quản lý cảng BĐ đối với các viên chức Đội tàu; Văn bản số 703/SNV-CCVC ngày 05/6/2020 của Sở Nội vụ; Văn bản của Phòng Tài chính – Kế hoạch về việc không đồng ý cho Ban Quản lý cảng BĐ trả lương hết tháng 11/2020 khi các thuyền viên tàu CĐ- 10 thôi việc vào ngày 24/11/2020; Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông T, người đại diện theo ủy quyền của ông L rút phần kháng cáo buộc Ban Quản lý cảng BĐ nhận ông L trở lại làm việc và bồi thường các khoản do đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trái pháp luật; Ban Quản lý cảng BĐ không trình bày được phương án bố trí sắp xếp lại bộ máy; Ban Quản lý cảng BĐ vừa hoạt động theo nguyên tắc đơn vị hành chính sự nghiệp vừa có thu nên khi tàu CĐ 10 không hoạt động thì Ban Quản lý cảng BĐ bắt buộc phải xây dựng phương án bố trí sắp xếp lại bộ máy theo quy định, án sơ thẩm chưa xem xét vấn đề này nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ban Quản lý cảng BĐ trình bày: Cơ quan có thẩm quyền đã ban hành quyết định hành chính ngưng hoạt động tàu CĐ10 là lý do bất khả kháng; đơn vị bị thu hẹp quy mô hoạt động, vị trí việc làm của thuyền viên tàu CĐ10 không còn nên phải áp dụng điểm d, Khoản 1, Điều 29 Nghị định 108 mà không thuộc trường hợp tinh giản biên chế; việc giải quyết chế độ cho các thuyền viên là phải căn cứ vào các văn bản pháp luật chứ không phải căn cứ vào các văn bản điều hành của các cơ quan hành
chính; Ủy ban đã chỉ đạo cụ thể rõ ràng là chấm dứt hợp đồng lao động đối với các thuyền viên tàu CĐ10 ngay mà không chờ thanh lý tàu; Ban Quản lý cảng BĐ cũng đã xin giải quyết chế độ tinh giản biên chế cho thuyền viên tàu CĐ10 nhưng không được chấp nhận vì không có căn cứ pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa phúc thẩm: Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, và những người tham gia tố tụng đã công khai thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [I] Về áp dụng pháp luật tố tụng: [1]. Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn L nộp trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Văn L vắng mặt nhưng ông L đã ủy quyền cho ông Bùi Sỹ T và ông Bùi Sỹ T đã ủy quyền lại cho ông Nguyễn Đăng K, ông K và ông T đều có mặt. Ông Đỗ Công T1 là người đại diện theo pháp luật của Ban Quản lý cảng BĐ vắng mặt nhưng ông T1 đã ủy quyền cho ông Lê Đức H, ông Nguyễn Đình T2 và ông H, ông T2 có mặt. Vì vậy phiên tòa xét xử vắng mặt ông T1 là đúng quy định tại Điều 228 và Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự. [II] Về nội dung: [1]. Ban Quản lý cảng BĐ, huyện CĐ được thành lập theo Quyết định số 5041/QĐ.UB ngày 30/10/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, hoạt động theo Quy chế về tổ chức và hoạt động được ban hành kèm theo Quyết định số 5341/QĐ.UB ngày 09/7/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Quyết định số 1155/QĐ-UBND ngày 02/4/2007 sửa đổi Quyết định số 5041/QĐ.UB ngày 30/10/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; các Quyết định bổ sung chức năng, nhiệm vụ: số 1234/QĐ-UBND ngày 07/6/2011, số 2692/QĐ-UBND ngày 22/9/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Quyết định số 2706/QĐ-UBND ngày 27/11/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quy định vị trí, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý cảng BĐ, huyện CĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Quyết định số 426/QĐ.UB ngày 25/12/2000 của Ủy ban nhân dân huyện CĐ V/v chuyển giao nhiệm vụ quản lý và điều hành bộ phận tàu biển CĐ cho Ban Quản lý cảng BĐ, huyện CĐ; các Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện CĐ liên quan việc xếp loại hình tổ chức hoạt động, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với Ban Quản lý cảng BĐ: số 676/QĐ-UBND ngày 17/8/2005, số 878/QĐ-UBND ngày 20/8/2007, số 109/QĐUBND ngày 15/02/2011, số 580/QĐ.UBND ngày 10/7/2014, số 1128/QĐ- UBND ngày 29/12/2017. Theo đó, Ban Quản lý cảng BĐ là đơn vị sự nghiệp có thu
tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động, có tư cách pháp nhân và chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Ủy ban nhân dân huyện CĐ; hoạt động trong lĩnh vực quản lý, khai thác, sử dụng cảng cá, cung ứng dịch vụ hậu cần thủy sản, dịch vụ vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường biển, … Đội tàu khách CĐ gồm hai tàu: CĐ 09 và CĐ 10 thuộc Ban Quản lý cảng BĐ, thực hiện nhiệm vụ vận chuyển hành khách đường biển tuyến Vũng Tàu – CĐ và ngược lại theo chỉ tiêu kế hoạch do Ủy ban nhân dân huyện CĐ giao hàng năm và được Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trợ giá vé trong quá trình hoạt động. Tại khoản Điều 9 của luật viên chức quy định: Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước , tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Ban Quản lý cảng BĐ được UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thành lập để cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Như vậy, Ban Quản lý cảng BĐ là đơn vị sự nghiệp công lập. [2]. Theo Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn số 15/HĐLĐ ngày 25- 02-2015 (BL 112-113) giữa Ban Quản lý cảng BĐ và ông Phạm Văn L ký kết thì ông L làm việc tại Ban Quản lý cảng BĐ với chức danh chuyên môn là Thợ máy tàu CĐ 10, nhiệm vụ theo sự phân công của thuyền trưởng, thời gian làm việc: 08 giờ/ngày, các chế độ và quyền lợi khác được thực hiện theo quy định của pháp luật. Hợp đồng làm việc có hiệu lực từ ngày 01/3/2015. Tại Điều 2 của Luật viên chức quy định: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị công lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, ông L là viên chức làm việc tại Ban Quản lý cảng BĐ là viên chức nên được điều chỉnh theo Luật viên chức. [3]. Ngày 26/9/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ra Quyết định số 2721/QĐ-UBND ban hành giá vé đội tàu vận tải CĐ áp dụng cho tàu khách CĐ tăng dần theo lộ trình từ tháng 9/2017 đến hết năm 2019, theo mục tiêu giảm dần bù lỗ, tiến tới năm 2020 hoạt động tự trang trải, ngân sách không bù lỗ. Do đội tàu hoạt động không hiệu quả, không cạnh tranh được với các tàu đóng mới của các đơn vị khác chạy cùng tuyến, không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch huyện CĐ giao năm 2018 nên không được Ủy ban nhân dân huyện CĐ giao chỉ tiêu kế hoạch năm 2019 và chờ thanh lý. Ngày 20/01/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành Thông báo số 21/TB-UBND với nội dung chấp thuận chủ trương dừng hoạt động tàu CĐ 10, mốc thời gian dừng hoạt động kể từ trước ngày 01/4/2020 và giao Ban quản lý cảng BĐ nghiên cứu, chủ động thực hiện các chế độ chính sách đối với nhân sự thuộc tàu CĐ 10 theo đúng quy định hiện hành về Luật viên chức và Luật lao động trước ngày 01/4/2020.
Ngày 14/8/2020, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Thông báo số 548/TB-UBND với nội dung thống nhất việc ngừng hoạt động của tàu CĐ 10 và giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ, UBND huyện CĐ, Ban Quản lý cảng BĐ và các cơ quan, đơn vị liên quan rà soát điều kiện thanh lý và xử lý các vấn đề về nhân sự của tàu Côn Đảo 10, thống nhất trình UBND tỉnh trong tháng 8/2020 theo quy định. Ngày 21/8/2020, UBND huyện CĐ ban hành Thông báo 329/TB-UBND yêu cầu Ban Quản lý cảng BĐ hoàn thành việc giải quyết nhân sự tàu CĐ 10 vào giữa quý IV năm 2020. [4]. Căn cứ nội dung các văn bản trên, ngày 31/8/2020, Ban quản lý cảng BĐ đã tổ chức cuộc họp với thành phần tham dự gồm: Đại diện lãnh đạo Liên đoàn lao động huyện CĐ (vắng mặt); đại diện lãnh đạo Phòng NVLĐTB&XH huyện CĐ (vắng mặt); Đảng ủy Ban Quản lý cảng BĐ; Ban Giám đốc; Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở; Lãnh đạo phòng Tổ chức - Hành chính; Lãnh đạo phòng Kế hoạch - Điều độ và toàn thể thuyền viên tàu CĐ 10 để thông báo chủ trương ngưng hoạt động của tàu CĐ 10 và giải quyết chế độ thôi việc cho thuyền viên. Cuộc họp kết luận: Trong quá trình chờ ý kiến chỉ đạo mới của cấp trên về giải quyết nhân sự tàu CĐ 10, đơn vị vẫn tiếp tục thực hiện quy trình về đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với thuyền viên tàu CĐ 10 theo đúng quy định và sự chỉ đạo của UBND huyện CĐ. Ngày 05/10/2020, BQL cảng BĐ đã ban hành Thông báo số 73/TB-BQL gửi cho các thuyền viên biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với 16 viên chức thuyền viên tàu CĐ 10 (có danh sách kèm theo) kể từ ngày 25/11/2020 (BL 63). Ông Bùi Sỹ T (thuyền viên tàu CĐ 10) đã đại diện cho tập thể thuyền viên tàu CĐ 10 có đơn kiến nghị tập thể nên ngày 04/11/2020, BQL cảng BĐ có công văn số 313/BQL trả lời đơn kiến nghị của ông Bùi Sỹ T với nội dung như sau: “...BQL cảng Bến Đầm áp dụng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật viên chức để chấm dứt hợp đồng làm việc với toàn bộ thuyền viên tàu CĐ 10 là phù hợp với thực tế, đúng quy định của pháp luật và không có căn cứ, cơ sở để giải quyết chế độ tinh giản biên chế cho thuyền viên tàu CĐ 10 theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ...”. Ngày 24/11/2020, BQL cảng BĐ ban hành Quyết định số 168/QĐ-BQL về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với viên chức ông Phạm Văn L với lý do: “BQL cảng BĐ đơn phương chấm dứt Hợp đồng làm việc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức vì lý do bất khả kháng theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn. (BL 118-119) Không đồng ý với quyết định, ngày 10/12/2020 ông L có đơn khiếu nại Quyết định số 168/QĐ-BQL. Ngày 31/12/2020, BQL Cảng BĐ ra Quyết định số 211/QĐ- BQL về việc giải quyết khiếu nại của ông L (lần đầu) với nội dung: Giữ nguyên Quyết định số 168 ngày 24/11/2020 của Ban quản lý cảng BĐ về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật Viên chức, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải báo cho viên chức biết trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng làm việc không xác định thời hạn. Ngày 05/10/2020, BQL cảng BĐ đã ban hành Thông báo số 73/TB-BQL về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc. Ngày 24/11/2020, BQL cảng BĐ ban hành Quyết định số 168/QĐ-BQL về việc chấm dứt Hợp đồng làm việc đối với ông Phạm Văn L. Như vậy, tính từ ngày ban hành thông báo đến ngày ban hành Quyết định (ngày 05/10/2020 đến ngày 24/11/2020) đã hơn 45 ngày là đúng quy định. [5]. Theo Nguyên đơn thì từ tháng 03/2019 UBND huyện Côn Đảo đã có văn bản chỉ đạo yêu cầu Ban Quản lý cảng Bến Đầm chuẩn bị thủ tục thanh lý tàu CĐ 10 và tổ chức thực hiện chế độ chính sách cho nhân viên tàu CĐ 10 bằng các văn bản sau: Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019; Thông báo số 21/TB-UBND ngày 20/01/2020 và Thông báo số 329/TB-UBND ngày 21/8/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Côn Đảo thể hiện. Tính từ khi UBND huyện Côn Đảo ban hành Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019 đến ngày dừng hoạt động tàu CĐ 10 theo chỉ đạo của UBND huyện Côn Đảo kể từ ngày 01/4/2020. Như vậy, Ban Quản lý cảng BĐ có thời gian 13 tháng để xây dựng Đề án sắp xếp, tổ chức lại bộ máy của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định 55/2012/NĐ- CP ngày 28/6/2012. Nếu Ban quản lý cảng BĐ thực hiện theo đúng chỉ đạo của UBND huyện và theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định 55/2012/NĐ- CP ngày 28/6/2012 thì các thuyền viên trên tàu CĐ 10 (trong đó có nguyên đơn) thuộc diện biên chế dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự và khi nghỉ việc sẽ được hưởng chế độ chính sách tinh giản biên chế theo quy định của Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014; Nghị định 113/2018/NĐ- CP ngày 31 tháng 8 năm 2018 và Nghị định 143/2020/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2020 sửa đổi, bổ sung Nghị định 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Do Ban quản lý cảng Bến Đầm không rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự nên đã căn cứ điểm d khoản 1 Điều 29 Luật Viên chức năm 2010 để đơn phương chấp dứt hợp đồng làm việc đối với ông L do thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng là trái pháp luật. Bởi vì Ban Quản lý cảng BĐ đã lường trước được tàu CĐ 10 sẽ ngưng hoạt động và bị thanh lý nên không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng. Xét quyết định của Ban Quản lý cảng BĐ đơn phương chấp dứt hợp đồng làm việc đối với ông L và ý kiến của phía ông L về lý do bất khả kháng được áp dụng thì thấy: Những căn cứ để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì có quy định về lý do bất khả kháng nhưng chưa có Nghị định của Chính phủ hướng dẫn như thế nào là lý do bất khả kháng. Tàu CĐ 10 do Nhà nước giao cho Ban Quản lý BĐ để thực hiện cung cấp dịch vụ công, vận hành theo chỉ tiêu kế hoạch Ủy ban nhân dân huyện CĐ giao hàng năm và được Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trợ giá vé trong quá trình hoạt động, nhưng hoạt động không hiệu quả, không cạnh tranh được với các tàu đóng mới của tư nhân và các đơn vị khác chạy cùng tuyến, thu không đủ chi để duy trì hoạt động, liên tiếp không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch huyện CĐ giao nên Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cắt chính sách bù lỗ vé tàu và chủ trương ngừng hoạt động tàu CĐ 10. UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ban hành Thông báo số 548/TB-UBND với nội dung thống nhất việc ngừng hoạt động của tàu CĐ 10
và giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ, UBND huyện Côn Đảo, Ban Quản lý cảng Bến Đầm và các cơ quan, đơn vị liên quan rà soát điều kiện thanh lý và xử lý các vấn đề về nhân sự của tàu Côn Đảo 10. Như vậy việc ngừng hoạt động tàu CĐ 10 là do chỉ đạo của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và UBND huyện CĐ. Việc ngừng hoạt động của tàu CĐ 10 là ngoài ý muốn của Ban Quản lý cảng BĐ nhưng buộc Ban Quản lý cảng BĐ phải thực hiện theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Vì vậy, việc Ban Quản lý cảng BĐ ngừng hoạt động của tàu CĐ 10 được coi là lý do bất khả kháng. Hợp đồng Ban Quản lý cảng BĐ ký hợp đồng làm việc với các thuyền viên tàu CĐ 10 thì trong hợp đồng đã nêu rõ địa điểm làm việc, chức danh chuyên môn đối với tàu CĐ 10. Khi con tàu này ngừng hoạt động, vị trí việc làm của các thuyền viên không còn thì Ban Quản lý cảng BĐ buộc phải chấm dứt hợp đồng làm việc đối với các thuyền viên tàu CĐ 10 là hoàn toàn phù hợp. Tại khoản Điều 29 Luật viên chức quy định: 1. Đơn vị sự nghiệp công lậpđược đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau: d) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn”; Như vậy, Ban Quản lý cảng BĐ ban hành Quyết định 168/QĐ-BQL ngày 24/11/2020 về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông Phạm Văn L vì lý do bất khả kháng là có căn cứ và phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 29 của Luật viên chức. Các chế độ của ông L do chấm dứt hợp đồng làm việc đã được Ban Quản lý cảng BĐ thanh toán đầy đủ theo quy định và đã thực hiện đầy đủ các quy định về việc chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông L theo quy định của Luật lao động và Luật viên chức. [6]. Phía nguyên đơn cho rằng Ban Quản lý cảng BĐ chấm dứt hợp đồng làm việc đối với ông L vì lý do bất khả kháng là không đúng mà phải cho ông L thôi việc theo diện tinh giảm biên chế do dôi dư quy định Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018. Tinh giản biên chế được giải thích tại khoản 2 Điều 3 của Nghị định 108/2014/NĐ-CP là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế. Tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị định 108/2014/NĐ-CP Các trường hợp tinh giản biên chế: a) Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự; 2. Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn
trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ) dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự. Như vậy, ông L chỉ thôi việc theo diện tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014, Nghị định 113/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2018 và Nghị định 143/2020/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2020 sửa đổi, bổ sung Nghị định 108/2014/NĐ-CP và Nghị định 113/2014/NĐ-CP khi tàu CĐ 10 còn hoạt động nhưng do ông L không đáp ứng được yêu cầu công việc trên tàu và không thể bố trí công việc khác trên tàu hoặc phải giảm bớt số người thực hiện công việc trên tàu. [7]. Đối với Công văn 3054/BNV-CTBC ngày 19/6/2020 của Bộ Nội vụ là văn bản hướng dẫn chung cho việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế, không phải áp dụng riêng đối với các thuyền viên tàu CĐ 10. [8]. Ông L yêu cầu Tòa án phúc thẩm tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ từ UBND huyện CĐ hoặc Ban Quản lý cảng BĐ, gồm: Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019 của UBND huyện CĐ; Văn bản số 3966/UBND-NVLĐTB&XH của UBND huyện CĐ; Phương án/Đề án sắp xếp tổ chức lại bộ máy và tinh giản biên chế của Ban Quản lý cảng BĐ theo chỉ đạo của UBND huyện CĐ tại Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019; Quy chế trả lương của Ban Quản lý cảng BĐ đối với các viên chức Đội tàu; Văn bản số 703/SNV-CCVC ngày 05/6/2020 của Sở Nội vụ; Văn bản của Phòng Tài chính – Kế hoạch về việc không đồng ý cho Ban Quản lý cảng BĐ trả lương hết tháng 11/2020 khi các thuyền viên tàu CĐ-10 thôi việc vào ngày 24/11/2020. Các văn bản: Thông báo số 55/TB-UBND ngày 04/3/2019 của UBND huyện CĐ; Văn bản số 3966/UBND-NVLĐTB&XH của UBND huyện CĐ; Quy chế trả lương của Ban Quản lý cảng BĐ đối với các viên chức Đội tàu đã được bị đơn cung cấp và có trong hồ sơ vụ án. Văn bản số 703/SNV-CCVC ngày 05/6/2020 của Sở Nội vụ có nội dung xin ý kiến của Bộ Nội vụ về việc thực hiện chính sách tinh giản nhân sự tàu CĐ 10, để có cơ sở hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với viên chức dôi dư sau khi thanh lý tàu CĐ 10 theo Văn bản số 3966/UBND-NVLĐTB&XH của UBND huyện CĐ. Nội dung văn bản 703/SNV- CCVC căn cứ vào Văn bản số 3966/UBND-NVLĐTB&XH, vì vậy việc thu thập tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của nguyên đơn là không cần thiết. Từ những phân tích và nhận định ở trên và theo đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện CĐ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L đối với bị đơn Ban Quản lý cảng Bến Đầm về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, buộc Ban Quản lý cảng Bến Đầm nhận ông Phương trở lại làm việc và bồi thường các khoản do đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trái pháp luật là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông L đã rút phần kháng cáo về việc buộc Ban Quản lý cảng BĐ nhận ông Phạm Văn L trở lại làm việc
và bồi thường các khoản do đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trái pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ phần kháng cáo này của ông L và giữ nguyên các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm. [9]. Về án phí: Ông Phạm Văn L không phải chịu án phí lao động sơ thẩm và án phí lao động phúc thẩm theo quy định tại Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên, Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 228, Điều 289 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012; khoản 1, khoản 2 Điều 29 Luật Viên chức; Điều 12, Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn L; sửa một phần quyết định của Bản án lao động sơ thẩm số 03/2022/LĐ-ST ngày 03/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện CĐ như sau: 1. Đình chỉ giải quyết phần kháng cáo của nguyên đơn ông Phạm Văn L về việc buộc Ban Quản lý cảng BĐ nhận ông Phạm Văn L trở lại làm việc và bồi thường các khoản do đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trái pháp luật. 2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn L đối với bị đơn Ban quản lý cảng Bến Đầm về việc “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”, buộc Ban quản lý cảng BĐ nhận ông Phạm Văn L trở lại làm việc và bồi thường các khoản do đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trái pháp luật. 3. Về án phí: Ông Phạm Văn L không phải nộp tiền án phí lao động sơ thẩm và án phí lao động phúc thẩm Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 21-4-2023). TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Tòa án nhân dân huyện CĐ; - VKSND huyện CĐ; - Chi cục THADS huyện CĐ; - Các đương sự; - Lưu NV, Tòa Kinh tế, hồ sơ. CÁC | THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quang HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Tâm ‹‹ Nguyễn Minh Châu Nguyễn Thị Quang » |