- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ"
- Tòa quyết gì? Sửa Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2020/KDTM-ST ngày 28 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/KDTM-PT Ngày 10 tháng 3 năm 2023 V/v. Tranh ch p về quyền sở hữu trí tuệ. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Hải Hiệp;
Các Thẩm phán:
Bà Đặng Thị Thơm;
Ông Điều Văn Hằng.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Tùng, Thư ký Toà án nhân dân c p cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Huy, Kiểm sát viên cao c p.
Ngày 10 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân c p cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại thụ lý số 26/2021/TLPT-KDTM ngày 29 tháng 9 năm 2021 về việc “Tranh ch p về quyền sở hữu trí tuệ” do có kháng cáo của bị đơn đối với Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2020/KDTM-ST ngày 28 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1906/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty PT ; Trụ sở: Seaport B, Boston, HK ; do ông Aaron C.von S – Phó Chủ tịch, Tổng phụ trách pháp chế và Thư ký Công ty PT làm đại diện. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn:
+ Văn phòng Luật sư A; địa chỉ: đường CM, phường 5, quận 3, thành phố HCM .
+ Luật sư Nguyễn Minh H , sinh năm 1960; địa chỉ: Văn phòng Luật sư A ; địa chỉ: đường CM, phường 5, quận 3, thành phố HCM . Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Tôn Th t Hồ N và Luật sư Nguyễn Nhật Thùy V – Văn phòng Luật sư A , Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn NC ; phường PK, thành phố TB, tỉnh TB; do ông, Chang, Ming-L – Chủ tịch Hội đồng thành viên công ty làm đại diện. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn:
+ Ông Phạm Ngọc M – Luật sư thuộc Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn E, Đoàn Luật sư thành phố HN; địa chỉ đường LV, quận TX, thành phố HN . Có mặt.
+ Ông Vũ Thái H – Phó Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn NC . Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thị Y và Luật sư Nguyễn Thị Bích P thuộc Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn E, Đoàn Luật sư thành phố HN. Luật sư P có mặt; Luật sư Y. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn - Công ty PT :
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/12/2019 của Công ty PT sau đây viết tắt là PTC), được chứng thực ngày 16/01/2020, hợp pháp hóa l nh sự ngày 29/01/2020; Đơn sửa đổi đơn khởi kiện ngày 21/7/2020; Đơn sửa đổi đơn khởi kiện ngày 28/10/2020 và trình bày của người đại diện theo ủy quyền của PTC trong quá trình tham gia tố tụng thì PTC khởi kiện Công ty TNHH NC sau đây viết tắt là C ) yêu c u bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với ph n mềm máy tính thuộc sở hữu của PTC, cụ thể như sau:
PTC được thành lập vào năm 1985, là công ty chuyên viết các ph n mềm cho các công việc thiết kế, gia công tự động hóa. Ph n mềm với tên gọi Pro Engineer được ra đời đ u tiên và phát hành vào năm 2000. Ph n mềm này được PTC tiếp tục hoàn thiện, bổ sung thêm các tính năng tiện ích sử dụng nhằm tối ưu hóa, nâng cao hiệu quả sử dụng và tăng năng su t cho người dùng. Theo thời gian mà bản ph n mềm được hoàn thiện sẽ có phiên bản tiếp theo được PTC đặt tên gọi và phát hành.
Năm 2003, phiên bản tiếp theo của ph n mềm Pro Engineer với tên gọi là “Pro/Engineer 2001” được PTC đổi tên thành “Pro/Engineer Wildfire” và từ năm 2004 phiên bản Pro/Engineer Wildfire được bắt đ u đánh số từ “2.0”.
Năm 2011, từ phiên bản Pro/Engineer Wildfire 5.0, PTC tiếp tục đổi tên phiên bản hoàn thiện tiếp theo thành “Creo”.
PTC không có văn bản pháp lý nội bộ của Hội đồng quản trị về việc quyết định đổi tên gọi ph n mềm mà việc này do bộ phận kinh doanh và marketing thực hiện và ra thông cáo báo chí. Tuy nhiên, các phiên bản ph n mềm Creo có sự kế thừa từ ph n mềm Pro/Engineer Wildfire 5.0 thông qua các đăng ký quyền tác giả của các phiên bản này. Như vậy, ph n mềm với tên gọi “Pro/Engineer Wildfire” và “Creo” là một với các phiên bản hoàn thiện theo dòng thời gian.
Khi PTC phát hành phiên bản ph n mềm mới phiên bản được hoàn thiện hơn), PTC sẽ chỉ bán phiên bản mới kể từ thời điểm phát hành. Trong trường hợp khách hàng - người sử dụng cuối muốn sử dụng phiên bản ph n mềm th p c p hơn thì PTC vẫn tiếp tục bán phiên bản hiện hành ví dụ năm 2020, PTC đ phát hành phiên bản Creo 7.0 thì PTC sẽ bán phiên bản Creo 7.0), nhưng PTC cho phép công ty – người sử dụng cuối được sử dụng phiên bản th p c p hơn theo nhu c u của họ.
Về hành vi vi phạm của Công ty TNHH NC: Ngày 12/4/2019, Đoàn thanh tra liên ngành của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đ tiến hành kiểm tra 28 máy tính đang hoạt động của C và phát hiện C đ sao chép, sử dụng ph n mềm máy tính Pro/Engineer Wildfire 5.0 mà không được phép của PTC. Đoàn thanh tra liên ngành đ lập biên bản vi phạm hành chính của C , C đ thừa nhận l i vi phạm và đ ký biên bản. Ngày 18/4/2019, Chánh Thanh tra Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Kết luận thanh tra số 47/KL-Ttr kết luận C đ có hành vi sao chép chương trình ph n mềm máy tính Pro/Engineering Wildfire 5.0 mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
Vì vậy, PTC khởi kiện yêu c u C phải ch m dứt hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với ph n mềm máy tính của PTC, loại b ph n mềm không bản quyền ra kh i máy tính; bồi thường thiệt hại cho PTC 12.646.113.100 đồng, tương đương 543.685 USD; Xin l i công khai 3 k liên tiếp trên ba tờ báo phổ biến của Việt Nam; Buộc C cam kết t t cả các bản ph n mềm máy tính của PTC mà C chiếm hữu, sử dụng trong tương lai phải là ph n mềm được PTC c p bản quyền; Buộc C phải chịu toàn bộ án phí, lệ phí, chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Trước khi Tòa án thụ lý vụ án, PTC thay đổi yêu c u khởi kiện, yêu c u C bồi thường 12.646.113.100 đồng, tương đương 543.685 USD; Xin l i công khai 3 k liên tiếp trên ba tờ báo phổ biến của Việt Nam. Quá trình giải quyết vụ án, PTC thay đổi yêu c u khởi kiện, chỉ yêu c u C bồi thường 2.184.019.500 đồng và buộc C phải xin l i công khai 3 k liên tiếp trên ba tờ báo phổ biến của Việt Nam. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 03/12/2020, PTC yêu c u C bồi thường số tiền 1.618.663.400 đồng và buộc C phải xin l i công khai 3 k liên tiếp trên ba tờ báo phổ biến của Việt Nam.
Tài liệu, chứng cứ PTC xu t trình gồm: Hồ sơ pháp nhân của PTC; Bản đăng ký quyền tác giả đối với chương trình ph n mềm máy tính của PTC gồm các phiên bản ph n mềm Pro/Engineer Wildfire, Pro/Engineer Wildfire 3.0, Pro/Engineer Wildfire 5.0, Creo 1.0, Creo 2.0, Creo 3.0 và bản dịch các tài liệu trên sang tiếng Việt; Các Hợp đồng mua gi y phép sử dụng ph n mềm được Đại lý chính h ng là Công ty TNHH ph n mềm CA sau đây viết tắt là CA ) ký với Công ty cổ ph n Nhựa TNTPvào ngày 26/04/2016 đơn giá là 69.590 USD tương đương với 1.553.944.700 đồng/1 gói mô đun tính năng thiết kế khuôn và gia công), với Công ty TNHH SR Suntour (Việt Nam) vào ngày 26/11/2019 đơn giá 2.184.019.500 đồng/1 gói mô đun tính năng thiết kế khuôn và gia công) k m theo các hóa đơn giá trị gia tăng, xác nhận của ngân hàng và các chứng nhận CA là Đại lý ủy quyền của PTC. PTC lập luận hai hợp đồng này chứng minh PTC đ bán gi y phép sử dụng ph n mềm cho hai công ty để họ sử dụng. PTC luôn đạt được lợi ích vật ch t khi bán gi y phép sử dụng ph n mềm và hành vi xâm phạm của C là nguyên nhân trực tiếp gây ra khoản th t thu của PTC và chứng minh giá chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả đối với chương trình ph n mềm máy tính PTC là giá thực tế đ thực hiện tại Việt Nam.
PTC trình bày căn cứ pháp lý cho yêu c u khởi kiện của mình là theo quy định tại Điều 198, Điều 202, Điều 204 và điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu Trí tuệ; khoản 1.3 điểm 1 thuộc Mục I Ph n B Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP
ngày 03/4/2008.
Về lý do thay đổi yêu c u khởi kiện, PTC trình bày: Tại Đơn khởi kiện, PTC xác định ph n mềm Pro/Engineer Wildfire 5.0 mà C xâm phạm quyền tác giả của PTC có giá trị là 543.685 USD, tương đương 12.646.113.100 đồng, đây là giá trị c p phép sử dụng trọn bộ ph n mềm Pro/Engineer Wildfire 5.0 (173 mô-đun) mà C đ cài đặt, sử dụng không xin phép, theo giá bán niêm yết để c p phép bản quyền của PTC. Tuy nhiên, trên thực tế, người sử dụng căn cứ theo nhu c u, chức năng hoạt động của mình sẽ mua các gói mô đun là một ph n của phiên bản ph n mềm được PTC phát hành ở thời điểm đó mà không nh t thiết phải mua trọn bộ ph n mềm. PTC chỉ chứng minh được giá bán thực tế ở thị trường Việt Nam vào thời điểm C có hành vi xâm phạm qua 02 Hợp đồng nêu trên. PTC thay đổi yêu c u khởi kiện, chỉ yêu c u C bồi thường thiệt hại theo giá trị của hợp đồng thực tế PTC đ bán gi y phép sử dụng ph n mềm cho Công ty cổ ph n Nhựa Thiếu Niên Tiền Phong, thời điểm vào tháng 4/2016 - trước thời điểm C xâm phạm bản quyền chương trình ph n mềm máy tính của PTC.
* Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn - Công ty TNHH NC trình bày:
Ph n mềm mà nhân viên của C tự ý cài đặt trước thời điểm kiểm tra và bị Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lập biên bản ngày 12/4/2019 là ph n mềm “Pro Engineering Wildfire 5.0” thể hiện trong Kết luận thanh tra số 47/KL-TTr ngày 18/4/2019. Tại các tài liệu mà PTC cung c p làm căn cứ khởi kiện thì trong Gi y chứng nhận đăng ký, ph n mềm thuộc sở hữu của PTC là “Pro/ENGINEER Wildfire 5.0”. Từ đó, C th y rằng ph n mềm thuộc sở hữu của PTC không phải là ph n mềm mà nhân viên của C đ tự ý cài đặt để sử dụng. Đề nghị PTC cung c p tài liệu của tổ chức giám định độc lập khẳng định ph n mềm của PTC là ph n mềm đ được nhân viên của C tự ý cài đặt, việc xem xét và kết luận ph n mềm sao chép phải dựa vào sự so sánh m nguồn của ph n mềm gốc và ph n mềm sao chép, việc này phải được tổ chức giám định có chuyên môn độc lập khẳng định.
Căn cứ mà PTC sử dụng để chứng minh giá trị của ph n mềm là tài liệu số 03-20/CA ngày 06/7/2020 của Công ty TNHH Ph n mềm CA , theo đó, ph n mềm “PTC Pro Engineer Wildfire 5.0” xác nhận có giá trị 543.685 USD nhưng không có b t cứ tài liệu chứng minh giá bán nào k m theo, vì vậy không có giá trị làm căn cứ xác định giá trị ph n mềm để xác định thiệt hại. C cho rằng giá bán của ph n mềm này là ngụy tạo, giả mạo bởi theo tìm hiểu của C thì ph n mềm Pro Engineer Wildfire 5.0 đ ch m dứt sự tồn tại vào năm 2009-2010, còn CA được thành lập từ năm 2014. Vậy CA không thể xác nhận được giá bán ph n mềm khi nó đ không còn tồn tại và bản thân công ty này chỉ là đối tác bán hàng sau khi ph n mềm đ không còn tồn tại. Xác nhận giá trị ph n mềm của CA đ được nâng khống lên hàng trăm l n, giá ph n mềm này chỉ vào khoảng 2000 USD. Vì vậy, tài liệu xác nhận của CA không thể được coi là chứng cứ chứng minh giá trị của ph n mềm.
C đề nghị PTC cung c p các hợp đồng c p phép, hóa đơn giá trị gia tăng, chứng từ chuyển khoản thanh toán c p phép ph n mềm Pro/Engineering Wildfire 5.0 tại thời điểm năm 2019 cho các khách hàng tại thị trường Việt Nam ít nh t là 02 khách hàng) – thời điểm mà ph n mềm Pro/Engineering Wildfire 5.0 được nhân viên của C tự ý cài đặt.
Đề nghị Tòa án trưng c u cơ quan thứ ba có chức năng định giá hoặc thành lập Hội đồng định giá để xác định giá bán của ph n mềm Pro/Engineering Wildfire 5.0 cũng như giá trị thiệt hại thực tế của việc sử dụng trái phép nếu PTC chứng minh được ph n mềm Pro/Engineering Wildfire 5.0 được cho là C sử dụng trái phép là của PTC).
C còn cho rằng ph n mềm Pro Engineer Wildfire và ph n mềm Creo không thể là một vì ph n mềm Pro Engineer Wildfire 5.0 chỉ tồn tại từ năm 2009 đến trước 2011, trong khi ph n mềm Creo được phát triển từ năm 2011 đến nay. Để xác định ph n mềm Creo có kế thừa ph n mềm Pro Engineer Wildfire 5.0 hay không c n phải được cơ quan chuyên môn có kết luận giám định. Việc PTC sử dụng giá bán của ph n mềm Creo làm giá bán của ph n mềm Pro Engineer Wildfire 5.0 là không có giá trị. Mặt khác, giá bán của ph n mềm Creo mà PTC đưa ra cũng không nh t quán, không chính xác, khi thì 543.685 USD, khi thì 69.590 USD không giới hạn thời gian), khi thì 2.184.019.500 đồng (thời hạn 3 năm). Trong khi theo C tìm hiểu, ph n mềm Creo 7.0 mà PTC đưa ra có 5 mức c p độ từ 1 đến 5 tùy thuộc vào mô đun), có mức giá của bản c p độ 1 là 2.430 USD, bản c p độ 3 là 11.900 USD và bản c p độ 5 là 23.205 USD.
Về mức bồi thường thiệt hại, PTC căn cứ điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ để xác định, vì vậy, c n phải làm rõ thời gian thực tế sử dụng ph n mềm trái phép làm căn cứ để xác định mức bồi thường. Tuy nhiên, PTC không cung c p được tài liệu nào thể hiện rõ thời gian mà nhân viên của C đ sử dụng trái phép ph n mềm Pro/Engineer Wildfire 5.0 làm cơ sở để xác định giá trị bồi thường thiệt hại.
Vì vậy, đề nghị Tòa án không ch p nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của PTC.
* Các tài liệu, chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm thu thập:
- Công văn số 38/TTr-VHGĐ ngày 29/12/2020 của Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, k m theo Kết luận thanh tra sửa đổi số 27/KL-TTr ngày 28/12/2020 đối với Kết luận Thanh tra số 47/KL-TTr ngày 18/4/2019) của Chánh Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nội dung sửa đổi: Trang 1, mục 2, dòng cuối cùng và trang 2, mục 3, dòng 19 từ trên xuống, đều có nội dung: “Pro Engineering Wildfire 5.0”, sửa đổi là “Pro/ENGINEER Wildfire 5.0”.
- Văn bản số 21/CV-NTP ngày 12/01/2021, Văn bản số 817/Cv-NTP ngày 28/12/2020 của Công ty cổ ph n Nhựa Thiếu Niên Tiền phong, nội dung xác nhận có ký Hợp đồng mua bán ph n mềm số TIFOPLAST-CA /260416 ngày 26/4/2016 với Công ty TNHH ph n mềm CA như nội dung PTC trình bày là đúng.
- Văn bản số 05/2020/SRSUNTORT ngày 17/12/2020 của Công ty TNHH SR Suntour (Việt Nam), nội dung xác nhận có ký Hợp đồng kinh tế số 261119 [PTC-CREO]/CA - SR SUNTOUR ngày 26/11/2019 với Công ty TNHH ph n mềm CA như nội dung PTC trình bày là đúng.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2020/KDTM-ST ngày 28 tháng 01 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đ áp dụng khoản 2 Điều 30, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147, Điều 235, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hiệp định về thiết lập quan hệ quyền tác giả ký ngày 27/6/1997 giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa K , được phê duyệt tại Quyết định số 1130/TTg ngày 26/12/1997 của Thủ tướng Chính phủ; khoản 1 Điều 6, điểm m khoản 1 Điều 14, khoản 3 Điều 20, Điều 22, Điều 27, khoản 6 Điều 28, Điều 198, Điều 202, Điều 203, Điều 204, Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Điều 5, Điều 7, Điều 17, Điều 18 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010) của Chính phủ; khoản 1.3 điểm 1 thuộc Mục I “Về yêu c u bồi thường thiệt hại (Điều 204 và Điều 205 của Luật Sở hữu trí tuệ)” của Ph n B Thông
tư
Liên
tịch
số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP
ngày 3/4/2008, quyết định:
Ch p nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của Công ty PT đối với Công ty TNHH NC:
- Buộc Công ty TNHH NC bồi thường thiệt hại cho Công ty PT số tiền 1.611.704.400 đồng.
- Buộc Công ty TNHH NC xin l i công khai Công ty PT trên Báo Tuổi tr , Báo Thanh niên và Báo Vietnam News bằng tiếng Anh) ba k liên tiếp về hành vi xâm phạm quyền tác giả của Công ty PT .
Ngoài ra, Tòa án c p sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ phải chịu l i nếu chậm thi hành án, về án phí và thông báo quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/02/2021, bị đơn là C kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Tòa án c p sơ thẩm xác định thiệt hại thực tế của PTC và buộc C phải bồi thường là không đúng pháp luật khi không trưng c u giám định xác định tại giá ph n mềm bị xâm phạm, đồng thời PTC cũng không chứng minh được thời gian vi phạm của C .
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn là C thay đổi nội dung kháng cáo, cụ thể: C đề nghị được xin l i công khai PTC tại phiên tòa phúc thẩm về hành vi xâm phạm quyền tác giả của PTC và cam kết sẽ có văn bản xin l i chính thức gửi tới PTC sau. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận lời xin l i công khai của C tại phiên tòa và không buộc C phải xin l i công khai PTC trên Báo Tuổi tr , Báo Thanh niên và Báo Vietnam News bằng tiếng Anh) ba k liên tiếp. Về bồi thường thiệt hại, C giữ nguyên yêu c u kháng cáo cho rằng PTC khởi kiện vụ án nhưng không xu t trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế xảy ra, tuy nhiên với tinh th n thiện chí, hợp tác giữa hai bên, tránh cho vụ kiện bị kéo dài thì C đồng ý bồi thường cho PTC với số tiền 400.000.000 đồng.
Sau khi C thực hiện việc xin l i công khai tại phiên tòa phúc thẩm về hành vi xâm phạm quyền tác giả của PTC, nguyên đơn là PTC ch p nhận lời xin l i công khai của C và yêu c u C thực hiện đúng cam kết về việc gửi văn bản xin l i chính thức tới PTC. PTC đồng ý với đề nghị của C về việc đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận lời xin l i công khai của C tại phiên tòa và không buộc C phải xin l i công khai PTC trên ba tờ báo phổ biến tại Việt Nam trong ba k liên tiếp. Về bồi thường thiệt hại, PTC giữ nguyên quan điểm như đ trình bày tại Tòa án c p sơ thẩm, xác định việc Tòa án c p sơ thẩm buộc C bồi thường thiệt hại cho PTC số tiền 1.611.704.400 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, với việc C đ công khai xin l i và với tinh th n thiện chí, hợp tác giữa hai bên, tránh cho vụ kiện bị kéo dài nên PTC tự nguyện chỉ yêu c u C bồi thường số tiền là 1.128.000.000 đồng tương đương 70% số tiền mà Tòa án c p sơ thẩm đ buộc C bồi thường).
Các bên đương sự không xu t trình thêm tài liệu, chứng cứ mới và không th a thuận được với nhau về mức bồi thường thiệt hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân c p cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về tố tụng, kháng cáo của C là hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại c p phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đ tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, tại phiên tòa các bên đương sự đ thừa nhận C có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của PTC và C đ thực hiện việc xin l i công khai. Tuy nhiên về v n đề bồi thường thiệt hại, Tòa án c p sơ thẩm xác định giá trị bồi thường căn cứ vào giá trị chuyển nhượng toàn bộ ph n mềm Creo cho Công ty cổ ph n Nhựa TNTP mức 69.000 USD trong vòng 03 năm, không giới hạn số l n cài đặt, trong khi C chỉ sao chép ph n mềm trên 01 máy tính, không xác định được thời gian vi phạm là chưa có cơ sở vững chắc. Vì vậy, c n thiết phải trưng c u giám định giá trị “Pro Engineering Wildfire 5.0”, sửa đổi là “Pro/ENGINEER Wildfire 5.0” tại thời điểm phát hiện hành vi sao chép của C đối với 01 máy tính trong khoảng thời gian vi phạm. Do đó, kháng cáo của C là có cơ sở ch p nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án c p sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra công khai và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1 Kháng cáo của C trong thời hạn luật định và hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Căn cứ vào yêu c u khởi kiện của nguyên đơn, trình bày của các bên đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, xét th y việc Tòa án c p sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật có tranh ch p trong vụ án là “Tranh ch p về quyền sở hữu trí tuệ”, đồng thời thụ lý giải quyết vụ án là đúng pháp luật (theo quy định tại khoản 2 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự).
Gi y chứng nhận đăng ký Bản quyền tác phẩm Pro/ENGINEER Wildfire 5.0 công bố ngày 10/9/2009 tại Hoa K , có tác giả là Parametric Techcology Corproration (tên cũ của Công ty PT thành lập theo Luật chung của Bang Masachusetts Mỹ ngày 13/5/1985, năm 2012 đổi tên thành PTC Inc, điều lệ công ty được tổ chức và trình bày lại ngày 4/8/2015 có tư cách pháp nhân); địa chỉ văn phòng đăng ký tại 140 Kendrick Street, Needham, MA 02494, Hoa K ; Tác phẩm được tạo lập để cho thuê. PTC là Công ty phát triển và tiếp thị ph n mềm máy tính, bán ph n mềm và kinh doanh lĩnh vực liên quan.
Pro/ENGINEER là ph n mềm thiết kế cơ khí phục vụ chủ yếu cho ngành chế tạo máy như thiết kế khuôn mẫu, là ph n mềm CAD áp dụng nguyên lý tham số (parameter) trong thiết kế. Theo đó t t cả những ph n tử thiết kế ra đều ở dạng tham số. Điều này giúp nâng cao hiệu su t thiết kế, khi c n nhà thiết kế có thể hiệu chỉnh dễ dàng những ph n tử này mà không phải thiết kế lại từ đ u.
Ph n mềm với tên gọi Pro/Engineer Wildfire ra đời đ u tiên và phát hành năm 2000, được tiếp tục hoàn thiện, bổ sung các tính năng, tiện ích sử dụng tại phiên bản tiếp theo do PTC đặt tên và phát hành. Năm 2004 có tên là Pro/Engineer Wildfine 2001 đổi tên thành Pro/Engineer Wildfire. Từ năm 2004 phiên bản Pro Engineer Wildfine được bắt đ u đánh số từ “2.0”. Từ năm 2011 từ phiên bản Pro/Engineer Wildfine 5.0, PTC tiếp tục đổi tên thành phiên bản hoàn thiện tiếp theo thành Creo. Việc đổi tên này không có trong văn bản pháp lý nội bộ của Hội đồng quản trị công ty mà được bộ phận kinh doanh và marketing thực hiện, ra thông cáo báo chí. Ph n mềm Creo đ có sự kế thừa từ Pro/Engineer Wildfine 5.0 thông qua đăng ký quyền tác giả các phiên bản này, cụ thể: Pro/ENGINEERING Wildfire năm 2004 có số đăng ký quyền tác giả TX 6-033-668; Pro/ENGINEERING Wildfire 3.0 năm 2006 có số đăng ký quyền tác giả TX 7-110-970 có nền tảng phát triển từ phiên bản Pro/ Engineer Wildfire có số đăng ký quyền tác giả là TX 6-033-668; Pro/ENGINEERING Wildfire 5.0 năm 2009 có số đăng ký quyền tác giả TX 7-590-984 có nền tảng phát triển từ phiên bản Pro/Engineer Wildfire và Pro/Engineer Wildfire 3.0 nêu trên. Như vậy, có cơ sở để xác định ph n mềm Pro/ENGINEERING Wildfire 5.0 thuộc quyền sở hữu trí tuệ của PTC.
Do C có vi phạm trong việc sao chép trái phép tác phẩm là chương trình ph n mềm máy tính mà không được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả nên hồi 11 giờ 30 phút ngày 12/4/2019 đ bị Đoàn Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát hiện và lập biên bản vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan. Tại biên bản vi phạm, C đ thừa nhận l i vi phạm này.
Ngày 18/4/2019, Đoàn Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Kết luận số 47/KL-TTr với nội dung: C đ có hành vi sao chép các chương trình ph n mềm máy tính mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả đối với 8 ph n mềm trong đó có ph n mềm Pro Engineering Wildfire 5.0, vi phạm vào khoản 1 Điều 18 Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm về quyền tác giả, quyền liên quan. Cùng ngày 18/4/2019, Chánh Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đ ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan số 35/QĐ-XPVPHC đối với C về hành vi vi phạm “Sao chép tác phẩm chương trình ph n mềm máy tính) mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; hình thức xử phạt: phạt tiền 30.000.000 đồng và buộc C phải dỡ b ngay bản sao chương trình ph n mềm máy tính không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả. Ngày 6/5/2019, C đ nộp phạt tại Kho bạc nhà nước Hà Nội.
Ngày 28/12/2020, Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Kết luận số 27/KL-TTr sửa đổi Kết luận số 47/KL-TTr ngày 18/4/2019 về tên gọi ph n mềm Pro Engineering Wildfire 5.0 thành Pro/ENGINEERING Wildfire 5.0.
Như vậy, C đ thực hiện hành vi sao chép ph n mềm Pro/ENGINEER Wildfire 5.0, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quyền tác giả) của PTC. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên PTC khởi kiện buộc C phải thực hiện việc xin l i công khai và bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu quyền tác giả là đúng theo quy định tại Điều 198, Điều 202, Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ.
PTC khởi kiện yêu c u buộc C xin l i công khai 03 k liên tiếp trên ít nh t 03 tờ báo phổ biến của Việt Nam. Xét th y, việc sử dụng biện pháp dân sự buộc xin l i công khai là c n thiết nhằm đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ theo một chuẩn mực cao và chặt chẽ nâng cao hiệu quả thực thi. Việc áp dụng biện pháp buộc xin l i công khai không những để bù đắp thiệt hại cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ mà còn nhằm răn đe, ngăn chặn những hành vi xâm phạm trong tương lai. Vì vậy, Tòa án c p sơ thẩm ch p nhận yêu c u khởi kiện của PTC là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, C thừa nhận hành vi vi phạm và đ xin l i công khai PTC, đồng thời cam kết sẽ có văn bản xin l i chính thức gửi tới PTC. PTC ch p nhận lời xin l i công khai của C và yêu c u C thực hiện đúng cam kết về việc gửi văn bản xin l i chính thức tới PTC, đồng thời PTC đồng ý với đề nghị của C về việc đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận lời xin l i công khai của C tại phiên tòa và không buộc C phải xin l i công khai PTC trên ba tờ báo phổ biến tại Việt Nam trong ba k liên tiếp. Như vậy, các bên đương sự đ thống nh t th a thuận được với nhau về v n đề này. Xét th a thuận của hai bên đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều c m của pháp luật và không trái đạo đức x hội nên Hội đồng xét xử ch p nhận và sửa bản án sơ thẩm công nhận sự th a thuận của đương sự.
Đối với yêu c u của PTC về việc buộc C bồi thường thiệt hại:
Để chứng minh thiệt hại thực tế xảy ra, PTC đ xu t trình tài liệu gồm:
- Hóa đơn ngày 17/5/2016 thể hiện Công ty TNHH ph n mềm CA (đại diện của PTC tại Việt Nam) đ bán cho Công ty cổ ph n Nhựa TNTP ph n mềm dành cho tính năng thiết kế khuôn và gia công theo Hợp đồng số 260416 bao gồm 3 module: Creo Complete Mold Desing Ext; Creo Complete Machining Ext; Creo Engineer IV. Đơn vị tính là Bộ; giá 1.553.944.700 đồng/l bộ.
- Hóa đơn ngày 10/8/2016 thể hiện Công ty TNHH ph n mềm CA bán cho Công ty cổ ph n Nhựa TNTP ph n mềm dành cho tính năng thiết kế khuôn và gia công theo Hợp đồng số 260416 bao gồm 3 modunle: Creo Complete Mold Desing Ext (Module thiết kế khuôn có các phương pháp tạo mặt phân khuôn từ đơn giản đến phức tạp. Giúp mô ph ng quá trình tách khuôn và ép thử sản phẩm); Creo Complete Machining Ext; Creo Engineer IV với giá 1.553.944.700 đồng/l bộ.
- Hóa đơn ngày 27/12/2019 thể hiện Công ty TNHH ph n mềm CA đ bán cho Công ty TNHH SR (Việt Nam) 1 bộ ph n mềm PTC Creo Parametric bản quyền 3 năm tính năng thiết kế và gia công) với giá: 2.184.019.500 đồng theo Hợp đồng số 261119. Theo nguyên đơn: mặc dù bán cho Công ty TNHH SR (Việt Nam) gi y phép sử dụng gói mô đun ph n mềm phiên bản 6.0 nhưng cho phép họ sử dụng phiên bản ph n mềm Creo 3.0.
Như vậy, PTC đ chứng minh được thiệt hại khi C xâm phạm quyền tác giả là giá chuyển giao quyền sử dụng quyền tác giả đối với chương trình ph n mềm máy tính là giá thực tế thực hiện tại Việt Nam. Tòa án c p sơ thẩm ch p nhận yêu c u của PTC về việc buộc C bồi thường thiệt hại là 69.590 USD được quy đổi ra VND tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 1.611.704.400 đồng) tương ứng giá trị của gói ph n mềm chuyển giao trước thời điểm C xâm phạm g n nh t Hợp đồng với Công ty cổ ph n Nhựa TNTP ngày 26/04/2016) là có cơ sở, phù hợp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ; Điều 5, Điều 7, Điều 17, Điều 18 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010) của Chính phủ; khoản 1.3 điểm 1 thuộc Mục I “Về yêu c u bồi thường thiệt hại Điều 204 và Điều 205 của luật sở hữu trí tuệ)” của Ph n B Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP
ngày 03/4/2008.
Tại phiên tòa phúc thẩm, PTC tự nguyện chỉ yêu c u Tòa án buộc C bồi thường số tiền 1.128.000.000 đồng (tương đương 70% số tiền mà Tòa án c p sơ thẩm đ buộc C bồi thường). Xét th y sự tự nguyện nêu trên của PTC là hợp pháp trên cơ sở quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử quyết định sửa bản án sơ thẩm công nhận sự tự nguyện của PTC.
[7 Quá trình giải quyết vụ án, C đề nghị Tòa án thành lập Hội đồng định giá hoặc trưng c u tổ chức thẩm định giá để xác định giá trị ph n mềm bị xâm phạm; đề nghị PTC cung c p chứng cứ xác định số ngày mà nhân viên C đ xâm phạm quyền tác giả của PTC. Hội đồng xét xử xét th y các nội dung nêu trên đ được Tòa án c p sơ thẩm xem xét, giải quyết và nhận định rõ trong bản án, cụ thể:
“…Ngành công nghiệp phần mềm là l nh v c đ c th , việc đ a s n phẩm t nhà s n xuất t i ng i s d ng đều thông qua hệ th ng đại lý đ c nhà s n xuất ủy quyền và xác nhận. Hệ th ng đại lý này ngoài việc cung cấp s n phẩm phần mềm t i ng i s d ng còn có trách nhiệm cung cấp dịch v hậu m i cho khách hàng nh m đ m b o cho việc s d ng phần mềm của khách hàng đ c thông su t. Vì vậy giá thị tr ng của s n phẩm phần mềm do nhà s n xuất xác định thông qua hệ th ng đại lý. Nội dung này cũng đ c chính ng i đại diện theo ủy quyền của Bị đơn xác nhận tại phiên tòa. Công ty TNHH phần mềm CA là đại lý ủy quyền của PTC, th hiện tại giấy chứng nhận đại lý do PTC phát hành mà Nguyên đơn cung cấp. Vì vậy các H p đ ng mua bán giấy phép s d ng phần mềm máy tính mà CA ký k t v i các khách hàng mà PTC đ cung cấp trong quá trình gi i quy t v án chính là chứng cứ xác định giá bán th c t của phần mềm máy tính mà C xâm phạm. M t khác, tại phiên tòa, ng i đại diện của C xác nhận đ g b phần mềm máy tính của PTC kh i máy tính của C . Vì vậy Hội đ ng xét x không chấp nhận đề nghị của ị đơn về việc định giá tài s n đ i v i phần mềm máy tính của PTC bị C xâm phạm.
…Đi m b kho n 1 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ “Căn cứ xác định mức b i th ng thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không quy định xác định thiệt hại tính trên s ngày vi phạm. M t khác, chính sách cấp giấy phép s d ng phần mềm của của PTC cũng không quy định tính theo ngày s d ng. Hội đ ng xét x thấy việc C th c hiện hành vi sao chép tác phẩm không đ c s cho phép của Nguyên đơn gây ra thiệt hại về tài s n cho Nguyên đơn đ đủ căn cứ buộc C ph i th c hiện trách nhiệm b i th ng cho Nguyên đơn. Vì vậy không chấp nhận lập luận này của ị đơn”.
Nhận định nêu trên của Tòa án c p sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không xu t trình thêm tài liệu, chứng cứ mới. Do đó, kháng cáo của C và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân c p cao tại Hà Nội về việc hủy bản án sơ thẩm là không có cơ sở ch p nhận.
Về án phí:
Tòa án c p phúc thẩm quyết định sửa bản án sơ thẩm nên đương sự kháng cáo không phải chịu án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Về án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm được xác định lại như sau:
PTC không phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm.
C phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm là 45.840.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
Sửa Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2020/KDTM-ST ngày 28 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, cụ thể như sau:
1. Công nhận sự th a thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn NC đ xin l i công khai Công ty PT tại phiên tòa phúc thẩm về hành vi xâm phạm quyền tác giả của Công ty PT . Công ty trách nhiệm hữu hạn NC cam kết sẽ có văn bản xin l i chính thức gửi tới Công ty PT .
- Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhựa C không phải xin l i công khai Công ty PT trên ba tờ báo phổ biến tại Việt Nam trong ba k liên tiếp về hành vi xâm phạm quyền tác giả của Công ty PT .
2. Công nhận sự tự nguyện của Công ty PT về việc yêu c u Công ty trách nhiệm hữu hạn NC bồi thường thiệt hại:
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn NC bồi thường cho Công ty PT số tiền 1.128.000.000 đồng (Một tỷ một trăm hai mươi tám triệu đồng).
3. Về án phí:
3.1. Về án phí sơ thẩm:
- Công ty PT không phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm. Hoàn trả Công ty PT số tiền 60.323.000 đồng Sáu mươi triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) tạm ứng án phí đ nộp theo Biên lai thu số 0009807 ngày 21/7/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn NC phải chịu toàn bộ tiền án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm là 45.840.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
3.2. Về án phí phúc thẩm: Công ty trách nhiệm hữu hạn NC không phải chịu án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm. Hoàn trả Công ty trách nhiệm hữu hạn NC số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tạm ứng án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm đ nộp theo Biên lai thu số 0005012 ngày 09/3/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong t t cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i su t quy định tại theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Thái ình; - VKSND tỉnh Thái ình; - C c THADS tỉnh Thái ình; - Các đ ơng s (theo đ/c); - L u HS, HCTP. CÁC THẨM PHÁN Điều Văn Hằng Đặng Thị Thơm | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Hải Hiệp THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Hải Hiệp |