- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày: 06-3-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ B, TỈNH BÌNH PHƢỚC`
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Đức
2. Bà Nông Thị Giới
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Lực – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Mai Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc Bảo V, sinh ngày 11/9/1997, tại tỉnh Bình Phước.
Đăng ký Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ 05, ấp 03, xã C, huyện L, tỉnh Bình Phước. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Làm thuê. Cha bị cáo tên Nguyễn Ngọc Thủy C, sinh năm 1975, mẹ bị cáo tên Nguyễn Thị Bảo L, sinh năm 1976, Vợ tên Võ Kim Th, sinh năm 2001, bị cáo có 01 người con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không. Ngày 12/10/2022 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 08/11/2022, bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Bà Phan Thị G, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
HKTT: Tổ 03, ấp N, xã J, thị xã B, tỉnh Bình Phước
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Vũ Thị P, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp 05, xã C, huyện L, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt)
2. Bà Võ Kim S, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ 05, ấp 03, xã C, huyện L, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 12/10/2022, Nguyễn Ngọc Bảo V điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số 93P2-115.88 đến nhà nghỉ “Mỹ Kiều” tại tổ 03, ấp N, xã J, thị xã B, tỉnh Bình Phước để tìm người quen, tuy nhiên sau đó do không tìm được nên V quay xe ra cổng, khi ra gần đến cổng, V nhìn thấy chị Phan Thị G là chủ nhà nghỉ đang ngủ trong phòng của gia đình chung khuôn viên với nhà nghỉ trên đầu giường có 01 điện thoại di động đang cắm sạc Pin nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại. Từ ý nghĩ đó V dựng xe ở sân và đi bộ vào lấy 01 Iphone XS Max màu đen, có ốp lưng hình 02 con gấu cất vào túi quần trước, bên trái rồi điều khiển xe ra về. Trên đường đi V lấy điện thoại chiếm đoạt được xem lại thì thấy màn hình bị khóa nên V tắt nguồn điện rồi tháo ốp lưng và 01 sim điện thoại vứt bỏ tiếp tục về nhà tại tổ 05, ấp 03, xã C, huyện L, tỉnh Bình Phước. Đến khoảng 08 giờ ngày 13/10/2022, V đem điện thoại chiếm đoạt được đến cầm cố cho chị Vũ Thị P tại ấp 05, xã C, huyện L được 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và đã tiêu xài hết.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, chị Phan Thị G đến Công an xã J, thị xã B tố cáo và cung cấp 01 đoạn Video clip do camera an ninh của nhà nghỉ ghi lại hình ảnh người thanh niên chiếm đoạt điện thoại
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B tiếp nhận nguồn tin phối hợp Công an xã tiến hành xác minh, rà soát và làm việc với Nguyễn Ngọc Bảo V. V đã thừa nhận việc chiếm đoạt tài sản và giao nộp:
- 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số 93P2-115.88;
- 01 quần tây màu đen và 01 áo khoác màu đen V mặc trong lúc chiếm đoạt tài sản.
Cơ quan điều tra cùng V đến nhà chị Vũ Thị P. Chị P giao nộp 01 điện thoại di động Iphone XS MAX, màu đen.
Cơ quan điều tra cho Nguyễn Ngọc Bảo V xem đoạn video clip do do camera an ninh nhà nghỉ “Mỹ Kiều” ghi lại. Xác định chính V là người đã lén lút chiếm đoạt điện thoại ngày 12/10/2022.
Tại bản kết luận định giá số: 33/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã B ngày 21/10/2022, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, mua lại tháng 10/2022 với giá 8.000.000đ (Tám triệu đồng), thời điểm định giá tháng 12/2022, trị giá 6.000.000đ (Sáu triệu đồng); 01 sim điện thoại Viettel có số 0984.116444, trị giá 120.000đ (Một trăm hai mươi nghìn đồng); 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa, trị giá 60.000đ (Sáu mươi nghìn đồng). Tổng cộng: 6.180.000đ (Sáu triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
Tại Kết luận giám định số 147/KL(KTS)-KTHS ngày 16/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước xác định 01 đoạn video trích xuất từ camera an ninh tại nhà nghỉ Mỹ Kiều “Không tìm thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong tập tin video gửi giám định ký hiệu A”.
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKS ngày 17/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B truy tố Nguyễn Ngọc Bảo V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị hại là Phan Thị G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Thị P vắng mặt tại phiên toà. Ngày 09/02/2023, Toà án nhận được đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bị hại, bị hại trình bày: Đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì khác về hình phạt đối với bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) cầm điện thoại.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau phần xét hỏi và tranh luận, giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo V từ 06 đến 09 tháng tù.
Về vật chứng vụ án:
- Cơ quan điều tra đã xử lý:
Trả lại 01 điện thoại di động Iphone XS MAX, màu đen là tài sản hợp pháp của bà Phan Thị G cho bà Tường.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Trả lại cho Nguyễn Ngọc Bảo V 01 quần tây màu đen; 01 áo khoác màu đen do V giao nộp để phục vụ điều tra.
- Đối với 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số 93P2-115.88, do Nguyễn Ngọc Bảo V đứng tên đăng ký không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên đề nghị trả lại cho V.
- Chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD chứa đoạn video trích xuất từ camera an ninh tại nhà nghỉ Mỹ Kiều, đã được niêm phong.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát. Thống nhất với tội danh, khung hình phạt mà Kiểm sát viên đã nêu trong bản luận tội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi mà mình đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ để có thể trở về lao động nuôi con và chăm sóc mẹ già đang bị tai biến, bị cáo hứa từ nay về sau sẽ không tái phạm nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã B, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện, cụ thể: Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 12/10/2022, Nguyễn Ngọc Bảo V lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Iphone XS Max có gắn 01 sim thuê bao số 0984.116444 (kèm 01 ốp lưng nhựa), của chị Phan Thị G tại tổ 03, ấp N, xã J, thị xã B, giá trị tài sản định giá là 6.180.000đ (Sáu triệu một trăm tám mươi nghìn đồng), đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt nhẹ.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài, mà không chịu lao động, bị cáo đã không làm chủ được hành vi của mình, nảy sinh lòng tham lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Đồng thời, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; số tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại cho bị hại nên bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Căn cứ vào tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp, đồng thời đảm bảo tính răng đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo V là người lao động tự do, thu nhập không ổn định, hiện đang nuôi con nhỏ, nên Hội đồng xét xử xét miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với các vật chứng gồm: 01 điện thoại di động Iphone XS MAX của bị hại Tường, đã được Cơ quan điều tra Công an thị xã B xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không xem xét.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Trả lại cho Nguyễn Ngọc Bảo V 01 quần tây màu đen; 01 áo khoác màu đen là tài sản của bị cáo V, trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số 93P2-115.88, do Nguyễn Ngọc Bảo V đứng tên đăng ký, quá trình điều tra làm rõ, chứng minh không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho V.
Chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD chứa đoạn video trích xuất từ camera an ninh tại nhà nghỉ Mỹ Kiều, đã được niêm phong.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Phan Thị G đã nhận lại điện thoại bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường 01 ốp lưng điện thoại bằng nhựa và 01 sim điện thoại. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Thị P không yêu cầu bị cáo V bồi thường 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) tiền cầm 01 điện thoại di động Iphone XS Max, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 36; Điều 50; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt Nguyễn Ngọc Bảo V 09 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã C, huyện L nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo V cho Uỷ ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bình Phước nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bình Phước trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
2. Xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
Trả lại cho Nguyễn Ngọc Bảo V 01 quần tây màu đen; 01 áo khoác màu đen là tài sản của bị cáo V, trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen, biển số 93P2-115.88, do Nguyễn Ngọc Bảo V đứng tên đăng ký, quá trình điều tra, truy tố đã làm rõ, chứng minh không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho V.
Chuyển theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD chứa đoạn video trích xuất từ camera an ninh tại nhà nghỉ Mỹ Kiều, đã được niêm phong.
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Bình Phước; - VKSND thị xã B; - Công an thị xã B; - Chi Cục THA DSTX B; - Phòng PV27 – CAT Bình Phước; - Bị cáo, bị hại, đương sư; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc Mai Phƣơng |