vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Sông Công, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 08/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Dƣơng Văn Đ 15 (Mƣời lăm) tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn Đoàn - không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Dƣơng Văn Đ 15 (Mƣời lăm) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày 08/3/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Bản

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tiến và bà Đào Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dƣơng Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 29/6/1994; Nơi thường trú: xóm C, xã B, huyện P, Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn K và bà Dương Thị T; có vợ: Trung Thị N, sinh năm 1986, con: có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2022;

Tiền án, tiền sự: Không; Gia đình thuộc hộ nghèo năm 2023

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công, Thái Nguyên từ ngày 19/11/2022 đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo ông Vũ Văn Ch là Trợ gúp viên pháp lý trung tâm trợ gúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường L, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 50 phút, ngày 19/11/2022 Công an phường Lương Sơn làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực nghĩa trang tổ dân phố Phú Thái, phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên phát hiện Dương Văn Đ đang ngồi cạnh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @, BKS: 20G1 – 161.50, có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính đối với Dương Văn Đ thì Đ tự nguyện lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra 01 túi nilon bên trong chưa chất bột màu trắng, giao nộp cho tổ công tác, Đ khai đó là ma túy, loại heroine, mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Dương Văn Đ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy). Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của Đ 01 xi lanh nhựa đã qua sử dụng, tại đầu xi lanh dính vật chất màu đỏ (nghi là máu); 01 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave @, BKS: 20G1 – 161.50.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công đã trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Dương Văn Đ. Tại bản Kết luận giám định số 1736/KL-KTHS ngày 28/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,170 gam.

Quá trình điều tra Dương Văn Đ khai nhận: Bản thân Đ nghiện ma túy loại Heroine từ năm 2018 cho đến nay. Khoảng 11 giờ ngày 19/11/2022, Đ đi sang nhà ông Hoàng Văn Liêm (sinh năm: 1968, trú tại: Xóm Cầu Gỗ, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình), hỏi mượn chiếc xe mô tô BKS: 20G1 – 161.50, khi mượn xe Đ không nói với ông Liêm là mượn để đi mua ma túy về sử dụng. Sau khi mượn được xe, Đ một mình điều khiển xe mô tô đến khu vực ngã ba quá tải Gang Thép thuộc phường Trung Thành, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên để tìm người bán ma túy (do Đ đã mua ở khu vực này nhiều lần). Khi đến nơi Đ gặp 01 người đàn ông đeo khẩu trang, do nhận ra người này thường bán ma túy cho mình nên Đ hỏi “chú còn hàng không” thì người đàn ông trả lời “có”, Đ nói “cho cháu 200.000đ trắng” và lấy tiền từ trong túi đưa cho người đàn ông 200.000đ, người đàn ông đưa cho Đ 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa ma túy, Đ cầm gói ma túy để vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi về. Trên đường về, Đ vào cửa hàng bán thuốc mua 02 xi lanh và 01 lọ nước cất với giá 5.000đ rồi Đ tiếp tục điều khiển xe mô tô đi. Khi đến khu vực nghĩa trang TDP Phú Thái, phường Lương Sơn, thành phố Sông Công thấy vắng người nên Đ đi vào để sử dụng. Khi Đ vừa sử dụng xong một phần ma túy thì bị tổ công tác Công an phường Lương Sơn phát hiện bắt giữ và thu giữ vật chứng.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 0,150 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và vỏ túi nilon. 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B, bên trong chứa 02 xi lanh nhựa, trong đó có 01 xi lanh đã qua sử dụng được chuyển bảo quản theo đúng quy trình quản lý vật chứng.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh, BKS: 20G1 – 161.50 Cơ quan điều tra trả lại cho ông Hoàng Văn Liêm là chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 01/ CT-VKS ngày 28/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Dương Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 0,150 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và vỏ túi nilon. 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B, bên trong chứa 02 xi lanh nhựa, trong đó có 01 xi lanh đã qua sử dụng. Về án phí: áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn án phí cho bị cáo.Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật; tuy nhiên về phần hình phạt kiểm sát viên đề nghị hơi cao nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo chưa có tiền án tiền sự, trọng lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ không lớn.

Bị cáo đồng ý với quan điểm của người bào chữa không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình và vô cùng ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 19/11/2022, tại Tổ dân phố Phú Thái, phường Lương Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, Dương Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,170 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an phường Lương Sơn, thành phố Sông Công phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật như sau:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c)…Methamphetamine, …có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an tại địa phương, góp phần làm gia tăng các tệ nạn liên quan đến ma túy, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, hiểu rõ về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình, xã hội nhưng lối sống buông thả, không chịu tu dưỡng bản thân nên đã vướng vào tệ nạn ma túy. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo nói riêng đồng thời góp phần ngăn ngừa, đấu tranh đối với tội phạm về ma túy nói chung;

Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu số lượng ma túy tàng trữ không lớn vì vậy quan điểm của người bào chữa cho bị cáo về phần hình phạt cũng đảm bảo các quy định của pháp luật cũng như thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người có nhân thân tốt phạm tội lần đầu nên cần được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng và đồ vật liên quan đến vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và những vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ gia đình nghèo năm 2023 nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo có quyền kháng cáo.

Về nguồn gốc số ma túy: Đ khai mua của người đàn ông do không xác định được họ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.

Đối với ông Hoàng Văn Liêm, đã cho bị cáo Đ mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh, BKS: 20G1 – 161.50, nhưng ông Liêm không biết Đ mượn để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra trả lại cho ông Hoàng Văn Liêm là chủ sở hữu hợp pháp quản lý, sử dụng là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Dương Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt: Dƣơng Văn Đ 15 (Mƣời lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2022.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa 0,150 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong chứa 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu A và vỏ túi nilon. 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B, bên trong chứa 02 xi lanh nhựa, trong đó có 01 xi lanh đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/01/2023 giữa Công an thành phố Sông Công và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).

Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ