- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày: 07-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Phú
2. Bà Lê Thị Hồng Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Triều- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 214/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Ngọc Y (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12 tháng 10 năm 1992 tại Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Phụ bếp; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Đg; có vợ tên Trà Thị Ngọc H (đã chết) và 02 con (con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh 2017); tiền sự: Không, tiền án: Ngày 06/8/2021, Lê Ngọc Y bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 52/2021/HS-ST.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Anh Võ Hoài L, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Số 65/10 đường T, tổ 10, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Đăng K, sinh năm 1989 và bà Võ Thị Trúc T, sinh năm 1991, địa chỉ: Số 08/08/21b đường Nguyễn T, tổ 4, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
+ Ông Bùi Ngọc T, sinh 1976, địa chỉ: P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 16/10/2022, Lê Ngọc Y điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76X6-4318 đến nhà anh Võ Hoài L nhậu cùng với anh L, chị Võ Thị Trúc T và anh Nguyễn Đăng K cùng trú tại tổ 04, phường Q, thành phố Quảng Ngãi. Đến khoảng 00 giờ ngày 17/10/2022, anh K và chị T ra về, Y ngủ lại nhà anh L. Khoảng 07 giờ ngày 17/10/2022, Y thức dậy thấy con heo đất để trong tủ đựng đồ không đóng cửa nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Y đến nhà bếp lấy cái kéo cạy heo đất bể khuyết một lỗ kích thước (8x5,3)cm và trộm cắp tiền trong con heo đất, còn lại số tiền 11.000 đồng (Mười một nghìn đồng) trong con heo đất Y không lấy. Sau khi lấy được tiền Y đem kéo để lại vị trí cũ, còn con heo đất và mảnh vỡ Y để trên gác lửng rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76X6-4318 đi về nhà ở thôn T, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Về đến nhà, Y đếm số tiền trộm cắp được của anh L là 2.609.000 đồng (Hai triệu sáu trăm lẻ chín nghìn đồng). Y tiêu xài hết số tiền 1.289.000 đồng (Một triệu hai trăm tám mươi chín nghìn đồng). Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, anh L phát hiện sự việc bị mất trộm tài sản nên trình báo Công an phường T. Qua xác minh, Cơ quan điều tra mời Y làm việc. Y khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tiền của anh L và giao nộp số tiền 1.320.000 đồng (Một triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) còn lại chưa tiêu xài hết cho Cơ quan điều tra.
Tại Bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 26/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Lê Ngọc Y về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lê Ngọc Y mức án từ 09 đến 12 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ Hoài L đã nhận lại đủ số tiền bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) cái kéo dài 19,5cm (Đã qua sử dụng) và 01 (Một) con heo đất bằng sứ màu hồng và 01 (Một) mảnh vỡ sứ màu hồng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Lê Ngọc Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội; bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Xét thấy, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến quá trình xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Lê Ngọc Y đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 07 giờ ngày 17/10/2022, Lê Ngọc Y đã lén lút trộm cắp số tiền 2.609.000 đồng trong heo đất của anh Võ Hoài L. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội « Trộm cắp tài sản», tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với người khác.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Ngọc Y đã bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 52/2021/HS-ST ngày 06/8/2021 và được rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo là 04 tháng tại Quyết định số 15/2022/THAHS-QĐ ngày 22/8/2022 nên đã chấp hành xong thời gian thử thách vào ngày 06/10/2022. Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng năng trách nhiệm hịnh sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Người bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có bà nội là Trần Thị Liêm được Thủ tướng Chính Phủ tặng bằng khen đã có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, có bác ruột tên Lê Liêm là liệt sĩ nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy: Tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 nhưng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên thuộc trường hợp không cho hưởng án treo nên cần phải xử phạt tù và cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo được tính giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ Hoài L đã nhận lại đủ số tiền bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì thêm nên Tòa không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án gồm 01 (Một) cái kéo dài 19,5cm (đã qua sử dụng); 01 (Một) con heo đất bằng sứ màu hồng; xét thấy vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo Lê Ngọc Y phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc Y phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Y 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày đi chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) cái kéo dài 19,5cm; 01 (Một) con heo đất bằng sứ màu hồng và 01 (Một) mảnh vỡ sứ màu hồng.
Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/01/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lê Ngọc Y phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND TP Quảng Ngãi; - Công an tỉnh Quảng Ngãi; - CATP Quảng Ngãi (Bộ phận lưu trữ, NV); - CQTHAHS CATP Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Chi cục THADS TP Quảng Ngãi; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Nam |