vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 05/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/6/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi Hg 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/6/2022. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H và đồng phạm "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/6/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày: 05 - 01 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Rực

Các Hội thẩm nhân dân:

. Bà Nguyễn Thị Lý.

. Ông Nguyễn Văn Bạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 468/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 395/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo: 1. Nguyễn Thị H- sinh năm 1975 tại Bình Thuận; ĐKHKTT: Khu phố 3, phường B, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị Q- sinh năm 1948, có 04 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 06/HSST ngày 27/7/1999 của Tòa án nhân dân huyện ĐM, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Quyết định số 2119 ngày 16/02/2006 của UBND thành phố Hồ Chí Minh về việc đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Bản án số 132/2015/HSST ngày 09/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố PT, tỉnh Bình Thuận xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2016, đã đóng án phí. Bản án số 113/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân quận A, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2018, đã đóng án phí; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2022. Có mặt. 2. Nguyễn Phi Hg- sinh năm 1990 tại Khánh Hòa; ĐKHKTT: Khu phố 1, phường ĐL, thành phố PR- TC, tỉnh Ninh Thuận; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bi O (chết) và bà Nguyễn Thị Thu H-sinh năm 1966; tiền án: 01- Bản án số 12/2019/HS-ST ngày 27/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố PR- TC, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2022, đã đóng án phí và thi hành hình phạt bổ sung; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 119/2009/HS-PT ngày 03/8/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên bố không phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đình chỉ giải quyết vụ án theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 16/9/2009 về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự. Bản án số 263/2014/HSST ngày 29/10/2014 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/4/2015, đã đóng án phí; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2022. Có mặt.

- Bị hại:

+ Lữ Hoàng N- sinh năm 1997; địa chỉ: 23 TV, xã DL, huyện DK, Khánh Hòa. Có mặt.

+ Ngô Thị Kim O- sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn PV 1, xã VT, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt.

+ Lê Thị Khánh V- sinh năm 1996; địa chỉ: Xã SH, huyện DK, Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu dùng cá nhân nên vào các ngày 28/5/2022 và ngày 01/6/2022 Nguyễn Thị H, Nguyễn Phi Hg và một đối tượng tên “Nhi” (chưa rõ lai lịch) đã cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại siêu thị GO- địa chỉ: Lô số 4, đường 19/5, khu đô thị VĐT, xã VH, thành phố N, cụ thể như sau: Vụ 1: Khoảng 18 giờ ngày 28/5/2022, Nguyễn Thị H, Nguyễn Phi Hg và đối tượng tên “Nhi” đến siêu thị GO để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, Nhi đứng bên ngoài chờ, còn H và Hg vào trong siêu thị quan sát xem ai có sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đến khu vui chơi KUPO trên tầng 2 của siêu thị, H và Hg thấy chị Lữ Hoàng N có đeo một ba lô màu đen sau lưng, không kéo dây khóa, bên trong có 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max màu vàng nên nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này H lợi dụng chị N không chú ý đã thò tay vào ba lô lấy trộm 01 điện thoại hiệu Iphone XS Max của chị N. Sau đó, H đưa tài sản vừa trộm cắp được cho Hg rồi cả hai ra gặp Nhi đi về phòng trọ ở xã PĐ, thành phố N. Đến sáng ngày 29/5/2022, Nhi đem điện thoại đi bán ở thành phố CR được 6.000.000 đồng, Nhi nói trừ tiền xe đi lại chia mỗi người được 1.900.000 đồng. Số tiền này H và Hg đã tiêu dùng cá nhân hết. Sau khi bị mất trộm tài sản, chị N đã đến cơ quan công an trình báo sự việc. Vụ 2: Khoảng 19 giờ ngày 01/6/2022, Nguyễn Thị H, Nguyễn Phi Hg và đối tượng tên “Nhi” tiếp tục đến siêu thị GO để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, Nhi đứng bên ngoài, còn H và Hg vào trong quầy bán gà rán Jollibee ở tầng trệt của siêu thị thì thấy chị Ngô Thị Kim O có đeo giỏ xách màu nâu trên người, H lợi dụng lúc chị O không chú ý lấy trộm trong giỏ xách đeo trên người của chị O 01 điện thoại hiệu Samsung Glaxy A6 Plus màu xanh rồi quay sang đưa cho Hg để Hg cầm điện thoại vừa trộm được đi ra ngoài siêu thị đưa cho Nhi đang chờ sẵn. Sau đó Hg tiếp tục đi vào siêu thị cùng H trộm cắp tài sản. Khoảng 10 phút sau, H và Hg tiếp tục quay lại khu vực quầy bán gà rán Jollibee thì quan sát thấy chị Lê Thị Thanh V đang mua đồ ăn, H thấy trong túi áo khoác của chị V có 01 điện thoại hiệu Oppo F9 màu đỏ nên H áp sát, lén lấy điện thoại rồi đưa cho Hg đem ra cho Nhi. Sau khi bị mất trộm tài sản, chị Lê Thị Thanh V đã đến bộ phận an ninh của siêu thị trình báo, qua kiểm tra camera, lực lượng bảo vệ phát hiện H và Hg đang ở trên tầng 2 của siêu thị nên đã trình báo cơ quan công an đến đưa các đối tượng về trụ sở làm việc, còn đối tượng Nhi bỏ trốn. Tại Cơ quan công an, H và Hg đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên, đồng thời Hg đã gọi điện thoại nói Nhi đem trả 02 điện thoại vừa trộm cắp được. Sau đó Nhi đem 02 điện thoại vừa trộm cắp ném vào nhà anh Huỳnh Văn Th- gần trụ sở Công an xã VH, thành phố N. Cơ quan công an đã thu giữ 02 chiếc điện thoại này. Bản kết luận định giá tài sản số 134/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- UBND Tp.N kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max- 256GB: 7.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6 Plus- 32GB: 1.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9- 64GB: 1.400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản H và Hg trộm cắp vào các ngày 28/5/2022 và ngày 01/6/2022 là 10.400.000 đồng. Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6 Plus màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu đỏ (đã trả lại cho bị hại).

Bản Cáo trạng số 386/CT-VKS-NT ngày 30 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố N để xét xử Nguyễn Thị H và Nguyễn Phi Hg về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Phi Hg theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Phi Hg, xử phạt mỗi bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng tại phiên tòa một số bị hại vắng mặt. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ. [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. [3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận do cần tiền tiêu dùng cá nhân nên trong thời gian ngắn, Nguyễn Thị H và Nguyễn Phi Hg thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản của khách đi mua hàng tại siêu thị GO- địa chỉ: Lô số 4, đường 19/5, khu đô thị VĐT, xã VH, thành phố N, cụ thể: Khoảng 18 giờ ngày 28/5/2022, H và Hg trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max trị giá 7.500.000 đồng của chị Lữ Hoàng N; khoảng 19 giờ ngày 01/6/2022, H và Hg liên tiếp thực hiện 02 hành vi trộm cắp, 02 hành vi này thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian (trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6 plus của chị Ngô Thị Kim O có giá trị 1.500.000 đồng, trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 của chị Lê Thị Thanh V có giá trị 1.400.000 đồng)- tổng giá trị tài sản chiếm đoạt ngày 01/6/2022 là 2.900.000 đồng nên 02 hành vi trộm cắp này đủ yếu tố cấu thành một lần phạm tội. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thị H và Nguyễn Phi Hg trộm cắp là 10.400.000 đồng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, các biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, các biên bản sự việc, biên bản làm việc, biên bản trích xuất dữ liệu điện tử (hình ảnh camera), biên bản nhận dạng, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 386/CT-VKS-NT ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa truy tố Nguyễn Thị H, Nguyễn Phi Hg về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất ổn định trật tự xã hội ở địa phương. Trong thời gian ngắn các bị cáo thực hiện 02 vụ trộm cắp lấy tiền sinh sống, tài sản trộm cắp mỗi vụ có giá trị lớn, do đó cần áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên đối với các bị cáo. Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HS-ST ngày 27/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố PR- TC, tỉnh Ninh Thuận xử phạt Nguyễn Phi Hg 04 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2022 nên bị cáo Hg chưa được xóa án tích, do đó bị cáo Hg phạm tội lần này là tái phạm.Về vai trò, trách nhiệm của từng bị cáo, nhận thấy: Các bị cáo đều là người chủ động thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Thị H là người trực tiếp thực hiện tất cả các vụ trộm cắp. Về nhân thân: Bản án số 06/HSST ngày 27/7/1999 của Tòa án nhân dân huyện ĐM, tỉnh Đăk Lăk xử phạt Nguyễn Thị H 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Quyết định số 2119 ngày 16/02/2006 của UBND thành phố Hồ Chí Minh về việc đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 24 tháng đối với Nguyễn Thị H vì có hành vi trộm cắp tài sản. Bản án số 132/HSST ngày 09/9/2015 của Tòa án nhân dân thành phố PT, tỉnh Bình Thuận xử phạt Nguyễn Thị H 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 113/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân quận A, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Thị H 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 119/2009/HS-PT ngày 03/8/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên bố Nguyễn Phi Hg không phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đình chỉ giải quyết vụ án theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 16/9/2009 về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự. Bản án số 263/2014/HSST ngày 29/10/2014 của Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Nguyễn Phi Hg 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thể hiện các bị cáo đều có nhân thân xấu, coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, tích cực cải tạo, sớm trở thành công dân tốt. [4] Đối với đối tượng tên “Nhi” hiện không xác minh được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xử lý. [5] Đối với việc các bị cáo khai nhận còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 30/5/2022 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa, hiện chưa xác định được bị hại, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thành phố N tiếp tục điều tra, xác minh nếu đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. [6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6 của chị Ngô Thị Kim O và 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 của chị Lê Thị Thanh V. Tại phiên tòa chị O, chị V đều vắng mặt nhưng có lời khai đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì nên không xét. Các bị cáo trộm cắp của chị Lữ Hoàng N 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max. Tại phiên tòa chị N yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; các bị cáo đồng ý bồi thường cho chị N 7.500.000đ (giá trị điện thoại theo Hội đồng định giá xác định). Do vậy buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho chị N, cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường cho chị N 3.750.000đ. [7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/6/2022.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Phi Hg.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi Hg 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/6/2022.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc:

Bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường cho chị Lữ Hoàng N 3.750.000đ (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Bị cáo Nguyễn Phi Hg bồi thường cho chị Lữ Hoàng N 3.750.000đ (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Quy định: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án khoản tiền trên thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

+ Không xét bồi thường thiệt hại về tài sản giữa các bị cáo đối với chị Ngô Thị Kim O, Lê Thị Thanh V.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Phi Hg mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo của các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, quyền kháng cáo của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ