vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 01/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm b, điểm s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tuyên bố bị cáo NNTr (tên gọi khác: H) phạm tội “Giết người”. * Xử phạt bị cáo NNTr (tên gọi khác: H) 08 (Tám) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/02/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NNTr - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm b, điểm s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST.
Ngày: 01/02/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Thành Hữu.

Thẩm phán:

Bà Tôn Thị Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Văn Hòa

Ông Ngô Văn lầu

Bà Lý Thị Si Đê

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Lê Kim Lộc-Kiểm sát viên.

Ngày 01/02/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: NNTr (tên gọi khác: H); Sinh ngày 29/11/1999; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi NHĐ ký hộ khẩu thường trú: Ấp TH, xã VT, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: Ấp NM, xã NT, huyện MX, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà NLQ; Vợ: Nguyễn Thị T và có 01 người con sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/02/2022 đến ngày 10/02/2022 chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)

- Người bào chữa: Ông Võ Văn H – Luật sư của Văn phòng, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)

- Bị hại: NHĐ; Sinh năm 2003 (chết)

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

1. Ông NVT; Sinh năm 1975; Nơi cư trú: Khóm ĐT, phường VP, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)

2. Bà Trương Hồng T; Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khóm TQ, phường VP, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trương Hồng T là ông NVT (theo giấy ủy quyền ngày 06/5/2022)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà NLQ; Sinh năm 1978; Nơi cư trú: Ấp NM, xã NT, huyện MX, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Người làm chứng:

1. Ông NLC1; Sinh năm 1977; (có mặt)

2. Ông NLC2; Sinh năm 1988; (có mặt)

3. Ông NLC3; Sinh năm 1992; (có mặt)

4. Ông NLC4; Sinh năm 2000; (có mặt)

5. Ông NLC5; Sinh năm 2003; (có mặt)

6. Ông NLC6; Sinh năm 2000; (có mặt)

7. Ông NLC7; Sinh năm 2004; (vắng mặt)

8. Ông NLC8; Sinh năm 1995; (vắng mặt)

9. Ông NLC9; Sinh năm 1975; Nơi cư trú: Ấp NM, xã NT, huyện MX, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)

10. Bà NLC10; Sinh năm 1986; (có mặt)

11. Ông NLC11; Sinh năm 2001; (có mặt)

12. Bà NLC12; Sinh năm 1990; (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 03/02/2022 NLC3 tổ chức uống rượu cùng với NLC2, NLC5, NLC6, NLC4, NLC7, NLC8, NHĐ, người tên S (không rõ họ tên thật và địa chỉ) tại ấp TH, xã VT, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Đến khoảng 15 giờ thì NLC1 đến, trong lúc uống rượu thì NLC1 có kể cho NLC3, NLC4, NLC2, S nghe sự việc trước đó vào ngày 25/01/2022 NLC1 bị cháu của NLC1 là NNTr (H) đánh và rủ qua nhà NNTr ở ấp NM, xã NT, huyện MX, tỉnh Sóc Trăng để đánh NNTr trả thù. Cả nhóm đồng ý, NLC3 chở NLC1 đi trước, NLC2 chở NLC6, NLC7 chở NLC4, NHĐ chở NLC8 và T, NLC5 chở một người không rõ tên chạy theo sau. Khi đến cây cầu bê tông cách nhà NNTr khoảng 7-8m thì những người ngồi sau xuống xe đi bộ còn những người điều khiển xe thì chạy về hướng nhà NNTr. Lúc này nhà NNTr đang có đông người đến chơi tết NNTr đang nấu cháo thì nhìn thấy nhóm của NLC1 đến, NNTr biết là NLC1 tìm đánh trả thù nên nấp vào chuồng heo cạnh bếp, NLC1 vào hàng ba nhà NNTr thì gặp NLC11 (em rể của NNTr) NLC1 nắm cổ tay NLC11 và hỏi “bữa trước mầy kẹp cổ tao cho thằng NNTr đánh phải không?”, thì ông Huỳnh Văn M đến can ngăn, NLC1 buông tay NLC11 bỏ chạy vào nhà, NLC10 (em ruột của NLC1) mới cầm ly thủy tinh chọi ra hàng ba nhưng không trúng ai, NLC1 tát vào mặt NLC10 một cái, NLC10 bỏ đi vào nhà. Bà NLQ (chị ruột của NLC1, mẹ ruột của NNTr) điện thoại báo Công an nên nhóm người của NLC1 đi bộ ra xe, còn những người điều khiển xe thì chạy về hướng cây cầu bê tông, NLC1 đi về phía chuồng heo để tìm NNTr thì gặp NLC9 (anh rễ của NLC1) cầm theo 01 khúc cây tre gai dài khoảng 2m và 02 cây dao yếm ra nói với NLC1 “muốn qua nhà tao quậy hả gì?”. NLC1 nói với những người đi bộ đang đứng gần NLC1 “anh hai tao à, đừng có đánh đừng có chém” rồi NLC1 kêu NLC9 đi vào nhà, NLC1 nhìn qua chuồng heo phát hiện nơi NNTr trốn nên la lớn “nó kìa, nó kìa” NNTr nghe tiếng NLC1 la thì cầm lấy cây kéo dùng để cắt bao thức ăn cho heo ăn chạy ra khỏi cửa chuồng heo thì gặp NHĐ đang điều khiển xe mô tô ngang cửa chuồng heo NNTr nghĩ NHĐ tấn công NNTr nên NNTr cầm kéo đâm vào vùng ngực của NHĐ một cái rồi NNTr rút kéo ra bỏ chạy khoảng 150m thì ném bỏ cây kéo xuống ao nước, còn NHĐ sau khi bị NNTr đâm thì tiếp tục điều khiển xe thêm một đoạn thì té ngã xuống đất mọi người đưa NHĐ đi cấp cứu nhưng đã tử vong.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 36/KLGĐPY-PC09 ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: (bút lục số 107-108).

+ Dấu hiệu chính qua giám định: Trong lòng khí quản chứa ít dịch nhầy màu vàng nhạt, bầm tụ máu dưới da và trong cơ vùng ngực bên trái, ở kẻ liên sườn 2 có một vết thủng xuyên vào lồng ngực. Bầm tụ máu sau xương ức. Bầm tụ máu và tràn khí màng ngoài tim. Trong bao màng tim chứa đầy máu loãng và nhiều cục máu đông. Bao màng tim có một vết thủng. Cuống tim bị thủng. Trong buồng tim chứa ít máu loãng và nhiều cục máu đông. Hai phổi nhạt màu. Mặt cắt nhu mô hai phổi có trào ra ít máu tươi. Gan to, bề mặt có màu xám. Mặt cắt nhu mô gan trào ra ít máu tươi. Niêm mạc dạ dày không bị sung huyết. Trong lòng dạ dày chứa ít thức ăn đã được chuyển hóa.

+ Nguyên nhân chết: mất máu cấp.

+ Thời gian tử vong đến khi phẫu tử thi: 4-6 giờ.

+ Vật gây nên vết thương ở vùng ngực bên trái: vật sắc, nhọn.

Tại Bản kết luận giám định số 1097/KL-KTHS ngày 08 tháng 3 năm 2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trên cái áo thun ngắn tay màu đen (Mẫu 2) có dính máu người. Phân tích AND từ mẫu máu này được kiểu gen trùng với kiểu gen của NHĐ. Mẫu chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường vị trí số 1 (Mẫu 4) là máu người. Không phân tích được kiểu gen từ mẫu máu này do chất lượng mẫu kém. Không phát hiện máu người trên cây kéo (Mẫu 1) và quần short (Mẫu 3). Lưu kiểu gen NHĐ tại Phân Viện Khoa học Hình sự thành phố Hồ Chí Minh- Bộ Công an. (bút lục số 113).

Tại Bản kết luận giám định số 1174/C09B ngày 14 tháng 3 năm 2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh (C09B) kết luận:

+ Dấu hiệu chính qua giám định: Vết 1 là vết thủng da hình bầu dục ở vùng ngực trên bên trái, bờ mép vết thương sắc, xuyên qua kẽ liên sườn 2 vào lồng ngực gây thủng màng tim và thủng cuốn tim.

+ Cơ chế hình thành thương tích của ông NHĐ: vết rách da hình bầu dục ngực bên trái NHĐ (Vết 1) có đặc điểm phù hợp do vật sắc nhọn gây ra. Cây kéo gửi giám định gây ra được vết thương này

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSST-P2 ngày 24/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với NNTr về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trong quá trình điều tra, bị cáo NNTr thống nhất với các kết luận giám định. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi cầm cây kéo đâm vào người của NHĐ và tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường tiền theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp bị hại.

Trong quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất với các kết luận giám định. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo NNTr theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí mai táng là 59.400.000đồng và tiền tổn thất tinh thần số tiền 149.000.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường trước 20.000.000 đồng.

Tại phiên toà, sau khi luận tội và tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

- Tuyên bố: Bị cáo NNTr phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng: Khoản 2 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo NNTr từ 10 năm đến 12 năm tù.

- Đồng thời, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm xử lý vật chứng, giải quyết về trách nhiệm dân sự và án phí của vụ án.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo NNTr trình bày: Về tội danh và khung hình phạt mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã truy tố đối với bị cáo NNTr là bị cáo NNTr phạm tội giết người theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về tình tiết giảm nhẹ: Thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo như bị cáo đã tác động gia đình bồi thường tiền mai tang phí cho bị hại, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân than tốt, bị cáo có người NLC1 có công với cách mạng; ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị bị cáo tình tiết giảm nhẹ là bị cáo bị kích động tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân, bị cáo có gia đình không trọn vẹn cha mẹ bị cáo ly hôn từ nhỏ bị cáo sống chung với bà ngoại, bị cáo không tính côn đồ. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa: Bị cáo NNTr xin lổi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt của người đại diện hợp pháp của bị hại bà Trương Hồng T và người làm chứng NLC7, NLC8. Xét thấy, bà Trương Hồng T đã ủy quyền tham gia tố tụng cho ông NVT, ông NVT có mặt tại phiên tòa và những người làm chứng NLC7, NLC8 đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ 02 nhưng vắng mặt không lý do, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông NLC7 và ông NLC8.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, bị cáo NNTr đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung vụ án đã nêu ở phần trên. Lời thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định: Vào ngày 03/02/2022 bị hại NHĐ đi cùng với nhóm của NLC1 qua nhà NNTr ở ấp NM, xã NT, huyện MX, tỉnh Sóc Trăng để tìm đánh NNTr. Khi qua nhà NNTr lúc này nhà NNTr đang có đông người đến chơi tết NNTr đang nấu cháo thì nhìn thấy nhóm của NLC1 đến, NNTr biết là NLC1 tìm đánh trả thù nên nấp vào chuồng heo cạnh bếp, NLC1 vào hàng ba nhà NNTr thì gặp NLC11 (em rể của NNTr) NLC1 nắm cổ tay Bằng và hỏi “bữa trước mầy kẹp cổ tao cho thằng NNTr đánh phải không?”, thì ông Huỳnh Văn M đến can ngăn, NLC1 buông tay Bằng bỏ chạy vào nhà, NLC10 (em ruột của NLC1) mới cầm ly thủy tinh chọi ra hàng ba nhưng không trúng ai, NLC1 tát vào mặt Thương một cái, Thương bỏ đi vào nhà. Bà NLQ (chị ruột của NLC1, mẹ ruột của NNTr) điện thoại báo Công an nên nhóm người của NLC1 đi bộ ra xe, còn những người điều khiển xe thì chạy về hướng cây cầu bê tông, NLC1 đi về phía chuồng heo để tìm NNTr thì gặp NLC9 (anh rễ của NLC1) cầm theo 01 khúc cây tre gai dài khoảng 2m và 02 cây dao yếm ra nói với NLC1 “muốn qua nhà tao quậy hả gì?”. NLC1 nói với những người đi bộ đang đứng gần NLC1 “anh hai tao à, đừng có đánh đừng có chém” rồi NLC1 kêu NLC9 đi vào nhà, NLC1 nhìn qua chuồng heo phát hiện nơi NNTr trốn nên la lớn “nó kìa, nó kìa” NNTr nghe tiếng NLC1 la thì cầm lấy cây kéo dùng để cắt bao thức ăn cho heo ăn chạy ra khỏi cửa chuồng heo thì gặp NHĐ đang điều khiển xe mô tô ngang cửa chuồng heo NNTr nghĩ NHĐ tấn công NNTr nên NNTr cầm kéo đâm vào vùng ngực của NHĐ một cái rồi NNTr rút kéo ra bỏ chạy khoảng 150m thì ném bỏ cây kéo xuống ao nước, còn NHĐ sau khi bị NNTr đâm thì tiếp tục điều khiển xe thêm một đoạn thì té ngã xuống đất mọi người đưa NHĐ đi cấp cứu nhưng đã tử vong.

Bị cáo NNTr là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo NNTr đã thực hiện hành vi dùng cây kéo đâm vào vùng ngực là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại NHĐ, hành vi của bị cáo làm bị hại NHĐ chết do mất máu cấp từ vết thương do bị cáo gây ra cho bị hại NHĐ. Xét nguyên nhân xảy ra vụ án là do bị hại NHĐ đã cùng nhóm của NLC1 và nhiều người khác (tổng số 11 người) mang theo hung khí đến nhà của bị cáo để tìm đánh bị cáo do mâu thuẫn trước giữa bị cáo và NLC1, khi thấy nhóm của của NLC1 và bị hại NHĐ thì bị cáo NNTr đã vào chuồng heo để trốn, khi NLC1 phát hiện bị cáo và bị cáo nghe NLC1 la lớn “nó kìa, nó kìa” NNTr nghe tiếng NLC1 la thì cầm lấy cây kéo dùng để cắt bao thức ăn cho heo ăn chạy ra khỏi cửa chuồng heo thì gặp NHĐ đang điều khiển xe mô tô ngang cửa chuồng heo NNTr nghĩ NHĐ tấn công NNTr nên NNTr cầm kéo đâm vào vùng ngực của NHĐ một cái rồi NNTr rút kéo ra bỏ chạy; hơn nữa giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn với nhau nhưng khi được NLC1 rủ đi đến nhà bị cáo NNTr để đánh bị cáo Trần Thì bị hại NHĐ đồng ý thể hiện bị hại NHĐ có một phần lổi nên hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp phạm tội có tính chất côn đồ. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo NNTr về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo NNTr là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tính mạng của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Với mức độ, tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo NNTr đã thực hiện, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng một mức hình phạt tù tương xứng đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiện, trong vụ án này, bị cáo NNTr không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo và gia đình đã bồi thường chi phí mai táng bị hại NHĐ số tiền 59.400.000đồng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người có nhân NLC1 tốt; bị hại có phần lỗi; bị cáo có người NLC1 là người có công. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

Lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận một phần; đối với đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ là bị cáo bị kích động tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của người bào chữa cho bị cáo là chưa đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận vì mặc dù trong vụ án này bị hại có một phần lổi nhưng chưa đủ mức để áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng nên cần phải xử mức án nghiêm khắc đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng của vụ án gồm 01 (một) chiếc dép bên phải màu vàng, có kích thước (26x10x8cm) loại dép quay kẹp (dép lào); 01 (một) chiếc dép bên trái màu vàng, có kích thước (26x10x8cm) loại dép quay kẹp (dép lào); 01 (một) cây dao bằng kim loại, mũi bằng, một cạnh sắc có chiều dài 50cm, lưỡi dao dài 37cm, rộng 4,2cm, cán dao bằng kim loại 13cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 19,5cm, cán bằng nhựa màu đỏ- xám dài 10cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 9,5cm; 01 (một) cái áo thun ngắn tay màu đen, cổ tròn không bâu áo; 01 (một) cái quần short vải jean màu xanh (Hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/10/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng). đối với các vật chứng là tài sản của các bị cáo, bị hại nhưng hiện không có giá trị hoặc không sử dụng được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tịch thu và tiêu hủy đối với toàn bộ vật chứng của vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo NNTr đồng ý bồi thường tiền mai táng phí cho bị hại là 59.400.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần là 149.000.000 đồng theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại. Xét sự thỏa thuận giữa bị cáo với người đại diện hợp pháp của bị hại NHĐ tại phiên tòa là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại NHĐ số tiền 208.400.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận trước của gia đình bị cáo 20.000.000 đồng bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại NHĐ số tiền 188.400.000 đồng.

Tiếp tục quản lý số tiền 39.400.000 đồng mà gia đình bị cáo đã nộp cho Cục thị hành hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng theo biên lai số: 0003507 ngày 16/11/2022 để đảm bảo thị hành án.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điều 23, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng; phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 7.450.000 đồng

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm b, điểm s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tuyên bố bị cáo NNTr (tên gọi khác: H) phạm tội “Giết người”.

* Xử phạt bị cáo NNTr (tên gọi khác: H) 08 (Tám) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/02/2022.

* Về xử lý vật chứng:

- Căn cứ vào điểm a và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu và tiêu hủy đối với vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) chiếc dép bên phải màu vàng, có kích thước (26x10x8cm) loại dép quay kẹp (dép lào); 01 (một) chiếc dép bên trái màu vàng, có kích thước (26x10x8cm) loại dép quay kẹp (dép lào); 01 (một) cây dao bằng kim loại, mũi bằng, một cạnh sắc có chiều dài 50cm, lưỡi dao dài 37cm, rộng 4,2cm, cán dao bằng kim loại 13cm; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng dài 19,5cm, cán bằng nhựa màu đỏ- xám dài 10cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 9,5cm; 01 (một) cái áo thun ngắn tay màu đen, cổ tròn không bâu áo; 01 (một) cái quần short vải jean màu xanh (Hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/10/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng)

* Về trách nhiệm dân sự:

- Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 584, 585, 586, 587, 590, 591 và 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

- Xử buộc bị cáo NNTr có trách nhiệm bồi thường tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho những người NLC1 thích ở hàng thừa kế thứ nhất của bị hại NHĐ với tổng số tiền là 188.400.000 đồng.

Tiếp tục quản lý số tiền 39.400.000 đồng mà gia đình bị cáo đã nộp cho Cục thị hành hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng theo biên lai số: 0003507 ngày 16/11/2022 để đảm bảo thị hành án.

- Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:

+ Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

+ Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

* Về án phí:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điều 23, 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử buộc bị cáo NNTr (tên gọi khác: H) chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) và chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.450.000 đồng (bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).

* Về quyền kháng cáo bản án:

- Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

- Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ