vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 10/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ph 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ chuyển tạm giam (ngày 31 tháng 5 năm 2022). Tiếp tục giam giữ bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Phen - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần mức hình phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST.
Ngày: 10-01-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Thanh Danh, Hiệu trưởng Trường tiểu học Cầu Xéo thị trấn Long Thành, huyện Long Thành.

+ Bà Lê Thị Ánh Sáng – nguyên Ủy viên Thường vụ Liên Đoàn lao động huyện Long Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Linh Phương- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 245/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Ph, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh năm 2004, tại: Campuchia (năm sinh và nơi sinh căn cứ lời khai của mẹ ruột Ph là bà Nguyễn Thị H), Nơi sinh sống hiện nay: ấp 3, xã TH, huyện LT, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Không xác định; Dân tộc: Không xác định; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Họ và tên cha: Không xác định; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất (căn cứ lời khai của bà Nguyễn Thị H), Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/5/2022 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành. (bị cáo có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hoài Th, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Đồng Nai.

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Minh P, sinh năm 1985

2. Chị Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1987

Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã TH, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

3. Anh Huỳnh Thanh L, sinh năm 1989

4. Chị Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: Khu Phố PL, Phường TP, thị xã PM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

5. Anh Lê Văn Tr, sinh năm 2000 (vắng mặt có đơn)

Địa chỉ: Ấp 3, xã TH, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

(các bị hại còn lại đều vắng mặt không đơn).

- Người có quyền lợi và Nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Doãn Chí C, sinh năm 1998 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 3, xã TH, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

2. Anh Nguyễn Quang N, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 1, xã TH, huyện LT, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Ph không có nghề nghiệp và không có nơi cư trú ổn định. Trong khoảng thời gian từ ngày 05/3/2022 đến 30/5/2022, tại địa bàn xã TH, huyện LT, tỉnh Đồng Nai, Ph đã 03 lần thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của gia đình anh Huỳnh Thanh L, của anh Lê Văn Tr và của gia đình anh Nguyễn Minh P. Cụ thể:

Lần 01: Lúc 0 giờ ngày 05/3/2022, Ph đi bộ ngang qua căn nhà của ông Nguyễn Văn T ở ấp 3, xã TH, huyện LT thì phát hiện cửa không khóa nên Ph lén lút mở cửa đi vào phòng khách lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M02 của chị Nguyễn Thị Ch (con ruột ông T) đang sạc để trên đầu tủ, Ph tiếp tục đi vào khu vực phòng ngủ lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02s của anh Huỳnh Thanh L (chồng chị Ch) rồi cất giấu trong người đi đến khu vực trường mầm non TH ngủ. Đến 08 giờ ngày 06/3/2022, Ph thử sử dụng mật khẩu là 99999 thì mở được khóa cả hai điện thoại di động trên rồi mang đến cửa hàng điện thoại di động “Tuyết Anh” thuộc ấp 2, xã TH do anh Nguyễn Quang N làm chủ bán điện thoại di động Samsung Galaxy M02 với giá 800.000 đồng, Ph tiêu xài hết 300.000 đồng.

Lần 02: Lúc 07 giờ 30 phút ngày 05/5/2022, Ph quan sát thấy cửa phía sau căn nhà của anh Lê Văn Trường ở ấp 3, xã TH, huyện Long Thành không khóa cửa nên Ph lén lút mở cửa đi vào thấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs đang cắm sạc, bên cạnh có 01 ví da màu đen bên trong có số tiền 350.000 đồng. Ph lấy tiền và điện thoại trên cất giấu trong túi quần rồi mang về phòng trọ của Doãn Chí C ở ấp 3, xã TH (bạn của Ph). Ph nói dối C điện thoại Ph quên mật khẩu, nhờ C bán giúp và mua 01 điện thoại di động mới. C đến cửa hàng điện thoại di động “Hoàng Mobile” do anh Võ Đức H làm chủ bán điện thoại trên được số tiền 1.500.000 đồng, đồng thời mua lại 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ với giá 1.000.000 đồng mang điện thoại di động trên và số tiền 500.000 đồng về cho Ph. Ph đã sử dụng số tiền trên vào việc tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, Ph nhờ C mang điện thoại di động hiệu Oppo bán lại cho cửa hàng “Hoàng Mobile” với giá 700.000 đồng, Ph trả cho người phụ nữ tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) số tiền 620.000 đồng, còn lại 80.000 đồng Ph tiêu xài hết.

Lần 03: Lúc 16 giờ 30 phút ngày 30/5/2022, Ph đi bộ ngang qua nhà anh Nguyễn Văn P ở ấp 3, xã TH, huyện LT quan sát thấy cửa nhà anh P khóa ngoài, không có ai trông coi nên Ph đi ra phía sau nhà anh P lấy 01 cục đá đập vỡ tấm kính cửa sau nhà mở chốt bên trong vào khu vực phòng khách gỡ 01 tivi hiệu Sharp 32 inch màu đen treo trên tường xuống rồi đi vào phòng ngủ lấy 01 vòng đeo tay, 01 sợi dây chuyền, 01 nhẫn và 01 đồng hồ đều bằng kim loại màu vàng bỏ trong túi quần. Sau đó Ph mang tivi và tài sản lấy được về cất giấu tại phòng trọ của Doãn Chí C thuê ở chung (lúc này, C không có ở trong phòng). Đến 19 giờ ngày 31/5/2022 Ph bị công an huyện LT bắt giữ khẩn cấp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐĐGTS ngày 03/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện LT kết luận:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M02, màu đen, mua vào tháng 3/2021 trị giá 825.000 đồng.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02s, màu đen, mua vào tháng 10/2021 trị giá 925.000 đồng.

Tổng cộng 1.750.000 đồng (Bút lục số 73).

Tại Kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐĐGTS ngày 03/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện LT kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs trị giá 7.000.000 đồng (Bút lục số 75).

Tại Kết luận định giá tài sản số 96/KL-HĐĐGTS ngày 08/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện LT kết luận 01 tivi hiệu Sharp, màu đen, Model:LC-32LE153M, đã qua sử dụng trị giá 2.500.000 đồng (Bút lục số 72).

Tại Bản Kết luận giám định số 4978/KL-KTHS ngày 26/9/2022 của Phân viện khoa học kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- 01 lắc tay kim loại màu vàng (Ký hiệu M1), khối lượng 12,1054 gam, có thành phần chính là Đồng (Cu) và Kẽm (Zn). Hàm lượng Đồng (Cu): 68,88% và hàm lượng Kẽm (Zn): 29,72%, không tìm thấy thành phần kim loại vàng (Au).

- 01 đồng hồ kim loại màu vàng (Ký hiệu M2), khối lượng 44,9230 gam, có thành phần chính là Đồng (Cu). Hàm lượng Đồng (Cu): 71,80%, không tìm thấy thành phần kim loại vàng (Au).

- 01 dây chuyền kim loại màu vàng (Ký hiệu M3), khối lượng 9,7892 gam, có thành phần chính là Đồng (Cu) và Kẽm (Zn). Hàm lượng Đồng (Cu): 69,32% và hàm lượng Kẽm (Zn): 29,31%, không tìm thấy thành phần kim loại vàng (Au).

- 01 nhẫn kim loại màu vàng (Ký hiệu M4), khối lượng bao gồm cả mặt đá màu xanh: 15,1420 gam, có thành phần chính là Sắt (Fe). Hàm lượng Sắt (Fe): 71,34%, không tìm thấy thành phần kim loại vàng (Au) (Bút lục số 167)

Tại Kết luận định giá tài sản số 181/HĐ-HĐĐGTS ngày 27/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện LT kết luận:

- 01 lắc tay kim loại màu vàng, đã qua sử dụng, khối lượng 12,1054 gam, có thành phần chính là Đồng (Cu) và Kẽm (Zn). Hàm lượng Đồng (Cu): 68,88% và hàm lượng Kẽm (Zn): 29,72%, không tìm thấy thành phần kim loại vàng (Au) có trị giá 275.000 đồng.

- 01 đồng hồ kim loại màu vàng, đã qua sử dụng, khối lượng 44,9230 gam, có thành phần chính là Đồng (Cu). Hàm lượng Đồng (Cu): 71,80%, không tìm thấy thành phần kim loại vàng (Au), có giá trị 325.000 đồng.

- 01 dây chuyền kim loại màu vàng, đã qua sử dụng, khối lượng 9,7892 gam, có thành phần chính là Đồng (Cu) và Kẽm (Zn). Hàm lượng Đồng (Cu): 69,32% và hàm lượng Kẽm (Zn): 29,31%, không tìm thấy thành phần kim loại vàng (Au), có giá trị 150.000 đồng.

- 01 nhẫn kim loại màu vàng (Ký hiệu M4) đã qua sử dụng, khối lượng bao gồm cả mặt đá màu xanh: 15,1420 gam, có thành phần chính là Sắt (Fe). Hàm lượng Sắt (Fe): 71,34%, không tìm thấy thành phần kim loại vàng (Au), có giá trị 155.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 0595/ĐT/2022 ngày 06/6/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Đồng Nai kết luận: Qua khảo sát về hình thể ngoài, kết quả khảo sát về xương và khảo sát về răng. Chúng tôi kết luận độ tuổi của Nguyễn Văn Ph là 17 tuổi (+-06 tháng) kể từ ngày giám định 03/6/2022 (Bút lục số 77-78).

Việc thu giữ, tạm giữ, tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M02, màu đen của bị hại Nguyễn Thị Ch; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02S, màu đen của bị hại Huỳnh Thanh L; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Iphone Xs, màu vàng đồng của bị hại Lê Văn Tr, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành đã thu hồi trả lại cho chị Ch, anh L và anh Tr (Bút lục số 149-151).

- 01 tivi hiệu Sharp, màu đen, 01 lắc tay kim loại màu vàng, 01 đồng hồ kim loại màu vàng 01 dây chuyền kim loại màu vàng và 01 nhẫn kim loại màu vàng của vợ chồng anh Nguyễn Minh P và chị Trần Thị Ngọc D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện LT đã thu hồi trả lại cho anh P và chị D (Bút lục số 149-151).

- Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của Ph là số tiền còn lại sau khi bán điện thoại di động Samsung Galaxy M02 cho anh Nguyễn Quang N. Anh N không yêu cầu nhận lại số tiền trên nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước

Về trách nhiệm dân sự:

- Qúa trình điều tra các bị hại Huỳnh Thanh L, Nguyễn Thị Ch, Lê Văn Tr, Nguyễn Minh P và Trần Thị Ngọc D đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

- Đối với người có quyền, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Quang N và anh Võ Đức H không yêu cầu bị cáo Ph bồi hoàn số tiền thu lợi bất chính mà có.

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện LT và tại phiên tòa Nguyễn Văn Ph đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với biên bản người phạm tội ra đầu thú, lời khai bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu thu thập đúng trình tự pháp luật có tại hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 225/CT-VKS-LT ngày 14/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện LT đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LT giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph từ 08 tháng đến 10 tháng tù giam.

- Ý kiến của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử đã làm rõ tại phiên Tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, thống nhất với bản cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu luận tội và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, do bị cáo khi phạm tội là người chưa thành niên, có hoàn cảnh khó khăn, thiếu sự chăm sóc của gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91, 101 của Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên Tòa bị cáo không phát biểu tranh luận. Bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, ý kiến của kiểm sát viên và lời khai của bị cáo, bị hại và người bào chữa cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đối với các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt, xét lời khai của họ đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án, các bị hại cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường về phần dân sự. Nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu đã thu thập được tại hồ sơ vụ án. Thể hiện: Nguyễn Văn Ph không có nghề nghiệp và không có nơi cư trú ổn định. Từ ngày 05/3/2022 đến 30/5/2022, tại địa bàn xã TH, huyện LT, tỉnh ĐN, Nguyễn Văn Ph đã 03 lần thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản, cụ thể: Lần 01: Lúc 0 giờ ngày 05/3/2022, tại ấp 2, xã TH, huyện LT, Ph trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M02, màu đen trị giá 825.000 đồng của chị Nguyễn Thị Ch, trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02S, màu đen, trị giá 925.000 đồng của anh Huỳnh Thanh L; Lần 02: Lúc 07 giờ 30 phút ngày 05/5/2022 tại ấp 3, xã TH, huyện LT, Ph trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs trị giá 7.000.000 đồng và số tiền mặt 350.000 đồng của anh Lê Văn Tr; Lần 03: Lúc 16 giờ 30 phút ngày 30/5/2022, tại ấp 3, xã TH, huyện Long Thành Ph trộm cắp 01 tivi hiệu Sharp, màu đen trị giá 2.500.000 đồng, 01 lắc tay kim loại màu vàng trị giá 275.000 đồng, 01 đồng hồ kim loại màu vàng trị giá 325.000 đồng, 01 dây chuyền kim loại màu vàng trị giá 150.000 đồng và 01 nhẫn kim loại màu vàng trị giá 155.000 đồng của vợ chồng anh Nguyễn Minh P và chị Trần Thị Ngọc D. Tổng trị giá tài sản Ph chiếm đoạt cả 03 lần nêu trên là 12.505.000 đồng như phần nội dung bản án đã mô tả nêu trên. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Trong thời gian từ ngày 05 tháng 3 đến ngày 30 tháng 5 năm 2022, bị cáo đã thực hiện liên tiếp 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn xã TH, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân và gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Mặc dù tuổi đời còn nhỏ nhưng bị cáo nhận thức được việc xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn công cộng là vi phạm pháp luật, nhưng vì thiếu sự giáo dục của gia đình, để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội như trên. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn nhằm giáo dục bị cáo sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, xét thấy khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi (theo Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 0595/ĐT/2022 ngày 06/6/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Đồng Nai kết luận: độ tuổi của Nguyễn Văn Ph là 17 tuổi (+-06 tháng) kể từ ngày giám định 03/6/2022), mặt khác bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, từ nhỏ thiếu sự giáo dục của gia đình nên Hội đồng xét xử có xem xét và áp dụng Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cân nhắc mức hình phạt tương xứng khi lượng hình.

Đối với Doãn Chí C có hành vi bán điện thoại di động hiệu Iphone Xs giúp cho bị cáo Ph và Đối với Võ Đức H, Nguyễn Quang N có hành vi mua điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M02 và điện thoại di động hiệu Iphone Xs do Ph đem bán nhưng C, H và N không biết tài sản do Ph trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành không khởi tố, xử lý là phù hợp quy định pháp luật nên không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền 500.000 đồng Cơ quan điều tra Công an huyện LT tạm giữ của bị cáo (theo biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 05/3/2022 và Biên bản giao nhận hồ sơ vụ án/vụ việc ngày 05/3/2022 bút lục 28,30) do bị cáo Ph bán điện thoại di động Samsung Galaxy M02 cho anh Nguyễn Quang N. Anh N không yêu cầu nhận lại số tiền trên, xét số tiền này bị cáo thu lợi bất chính mà có nên áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 300.000 đồng bị cáo bán điện thoại di động Samsung Galaxy M02 cho anh Nguyễn Quang N và số tiền 1.200.000 (500.000 đồng + 700.000 đồng) bị cáo bán điện thoại Iphone Xs chiếm đoạt của anh Tr cho anh Võ Đức H, bị cáo đã tiêu xài hết, nhưng anh N và anh H không yêu cầu bị cáo bồi hoàn lại, đây là tiền bị cáo thu lợi bất chính mà có nên buộc bị cáo phải nộp lại sung quỹ Nhà nước tổng cộng số tiền là 1.500.000 đồng.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện LT, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện LT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khỏan 1 Điều 52, Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 47, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ph 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ chuyển tạm giam (ngày 31 tháng 5 năm 2022). Tiếp tục giam giữ bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) Cơ quan điều tra Công an huyện Long Thành tạm giữ của bị cáo (theo biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 05/3/2022 và Biên bản giao nhận hồ sơ vụ án/vụ việc ngày 05/3/2022 bút lục 28,30) và buộc bị cáo phải nộp lại sung quỹ Nhà nước tổng cộng số tiền là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) bị cáo tiêu xài hết do thu lợi bất chính mà có.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Ph phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ