vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Huy D phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Huy D phạm tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Huy D phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
  • Căn cứ chính? Điều 348 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày 22/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ninh Quang Mạnh;

2. Bà Doãn Thị Hường;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Mai Dy Định, Kiểm sát viên.

Ngày 22/02/2023 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2022/TLST-HS ngày 28/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS, ngày 08/02/2023 đối với bị cáo:

Lê Huy D (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 28/7/1994 tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Huy M và bà Hoàng Thị V; Vợ Mai Thị T, có 02 con - con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Mai Xuân T, sinh năm 1963. Chức vụ: Phó giám đốc Công ty Cổ phần Ba Sao Thái Nguyên – Là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần Ba Sao Thái Nguyên theo Giấy ủy quyền ngày 15/7/2022. Địa chỉ: Số 925, đường 3-2, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Đào Văn N, sinh năm 1995; Trú tại: Ngách 89/57 Phan Kế Bính, Liễu Giai, Ba Đình, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Ông Hoàng Việt P, sinh năm 1981; Trú tại: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội Dng vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 04 giờ 40 phút ngày 09/6/2022, tại Km 167+100 QL3 thuộc địa phận xã Quân Hà, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Bắc Kạn dừng xe ô tô taxi nhãn hiệu HUYNDAI i10, BKS 20A-226.45 đi hướng Cao Bằng - Bắc Kạn. Qua kiểm tra xác định lái xe là Lê Huy D, sinh ngày 28/7/1994, trú tại xã Phục Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, chở trên xe có 03 người đàn ông quốc tịch Trung Quốc không có hộ chiếu và giấy tờ nhập cảnh lưu trú tại Việt Nam gồm: Dao Jun, sinh ngày 11/01/2001, địa chỉ tại Nông trường Hồng Quang, huyện Trững Mai, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc; D Jun Qui, sinh ngày 06/12/1995, địa chỉ tại Trương Gia Sơn, thành phố Trương Thị, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc và Chen Xiao Xiao, sinh ngày 17/02/2001, địa chỉ tại Trấn Cổ Trại, huyện Ngu Thành, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ngày 11/6/2022 Công an huyện Bạch Thông đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cùng đồ vật, phương tiện có liên quan đến Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Bắc Kạn để điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra xác định: Tháng 7/2021, Lê Huy D ký kết hợp đồng lái xe taxi với Công ty cổ phần Ba Sao Thái Nguyên, địa chỉ tại số 925, đường 3-2, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi ký hợp đồng, D được Công ty cung cấp một xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10 mang BKS 20A-226.45 và một số thiết bị để phục vụ công việc. Khoảng 17h ngày 08/6/2022, khi D đang dừng đón khách ở khu vực cổng trường Đại học sư phạm Thái Nguyên thì nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0928.952.774 của một người đàn ông không quen biết đến số điện thoại 0968.274.513 của D, mục đích thuê D đến thành phố Cao Bằng đón khách về thành phố Thái Nguyên, D đồng ý và thống nhất cước phí tính theo đồng hồ trên xe. Sau đó, D điều khiển xe taxi BKS 20A-226.45 đi đến thành phố Cao Bằng, đến nơi D gọi lại vào số điện thoại 0928.952.774 của người đàn ông hỏi địa điểm đón khách thì người đàn ông chỉ dẫn D đi vào huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng và hứa sẽ trả thêm tiền công. Trên đường đi vào huyện Trùng Khánh (không nhớ địa điểm cụ thể), D thấy 03 (ba) nam thanh niên đứng đợi sát lề đường, D gọi điện thoại hỏi người đàn ông: Khách của anh có phải là 03 (ba) nam thanh niên không, người đàn ông trả lời: Đúng rồi, D dừng lại để 03 (ba) nam thanh niên bước lên xe taxi. Khi lên xe, D thấy 03 (ba) nam thanh niên có biểu hiện lo sợ và toát ra mùi mồ hôi như chưa được tắm rửa, D nghi ngờ 03 (ba) nam thanh niên này là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam nên hỏi: Đi đâu”, 03 (ba) nam thanh niên không trả lời nên D gọi điện thoại hỏi người đàn ông: Khách của anh là như nào đấy, người đàn ông trả lời: Người của anh mày không phải hỏi, có như nào cứ gọi anh. Khi người đàn ông trả lời như vậy, D biết 03 (ba) nam thanh niên này là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, nhưng do tiền công chưa được thanh toán nên D vẫn chở 03 (ba) người này về thành phố Thái Nguyên như đã thỏa thuận. Khi về đến địa phận xã Quân Hà, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn thì lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra, phát hiện trên xe chở 03 (ba) người Trung Quốc không có giấy tờ theo quy định nên đã lập biên bản sự việc và đưa toàn bộ người, phương tiện về Công an huyện Bạch Thông để xác minh, làm rõ. Lê Huy D thừa nhận biết 03 (ba) người Trung Quốc trên là nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKSBK-P1 ngày 26/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Lê Huy D về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự. Điều luật có nội Dng:

“1. Người nào vì vụ lợi mà tổ chức,… cho người khác …nhập cảnh… trái phép, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng … cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Huy D phạm tội "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép", xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phục Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về hình phạt bổ sung: đề nghị phạt tiền từ 10 đến 15 triệu đồng để sung quỹ Nhà nước. Về vật chứng: Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước chiếc điện thoại Samsung galaxy A9 của bị cáo; Tạm giữ điện thoại Iphone 11 và số tiền 1.882.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo; Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe, chứng minh nhân dân, ví da bên trong có giấy chứng nhận tập huấn nghiệp vụ lái xe, 01 thẻ số hiệu xe, 02 thẻ từ, 03 thẻ VISA, 01 thẻ ngân hàng BIDV, 01 thẻ màu đen có dòng chữ GIANNI, 01 thẻ siêu thị, 06 ảnh thẻ cỡ 3x4, 09 tờ tiền có màu sắc khác nhau; Trả lại cho Công ty cổ phần Ba Sao Thái Nguyên gồm 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc , 01 camera hành trình; Giao cho cơ quan quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Bắc Kạn 01 chứng minh nhân dân số 091838924 mang tên Đào Văn N để xử lý theo quy định. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, thừa nhận việc điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo mong HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm lo cho gia đình và có cơ hội sửa chữa sai lầm của bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội Dng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định:

Lê Huy D là lái xe taxi cho Công ty cổ phần Ba Sao Thái Nguyên. Ngày 08/6/2022, khi đang dừng xe đón khách thì D nhận được cuộc gọi từ số điện thoại lạ của một người đàn ông không quen biết đặt vấn đề thuê D lên thành phố Cao Bằng đón khách về thành phố Thái Nguyên. D đồng ý và thống nhất cước phí tính theo đồng hồ trên xe. Theo sự chỉ dẫn của người đàn ông, D điều khiển xe taxi BKS 20A-226.45 lên huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đón khách là ba người đàn ông Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Đến khoảng 04 giờ 40 phút, ngày 09/6/2022, khi xe ô tô của D điều khiển chở ba người Trung Quốc di chuyển theo hướng Cao Bằng -Thái Nguyên đến Km 167+100 quốc lộ 3 thuộc địa phận xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Kạn dừng xe kiểm tra phát hiện và lập biên bản.

Lê Huy D thừa nhận khi khách lên xe biết là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, tuy nhiên do chưa nhận được tiền công nên D vẫn chở ba người này theo như thỏa thuận. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép" quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước về xuất nhập cảnh, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng tình tiết giảm nhẹ "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bác họ Lê Hồng N là người có công với cách mạng; có ông ngoại Hoàng Văn T được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì; Bố bị cáo là ông Lê Huy M có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình hiện nay bị cáo là lao động chính nuôi hai con nhỏ được chính quyền địa phương xác nhận. Do đó, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu rõ việc đưa người nước ngoài không có giấy phép của cơ quan chức năng xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam là vi phạm pháp luật song vì lợi nhuận bị cáo vẫn thực hiện. Xét động cơ, mục đích phạm tội và tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy động cơ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ việc mong muốn nhận được số tiền công cao để nuôi sống gia đình nên bị cáo đã nhất thời phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, đủ khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Do vậy, HĐXX thấy có đủ cơ sở cho bị cáo hưởng án treo theo quy định. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10 mang BKS 20A-226.45 là tài sản của Công ty cổ phần Ba Sao Thái Nguyên, địa chỉ tại số 925, đường 3-2, phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Xác định Công ty cổ phần Ba Sao không biết việc Lê Huy D chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, Công ty cổ phần Ba Sao đã có đơn đề nghị được trả lại chiếc xe ô tô trên. Do đó, ngày 26/9/2022, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10 mang BKS 20A-226.45 cho chủ sở hữu là Công ty cổ phần Ba Sao Thái Nguyên là đúng quy định.

Đối với các đồ vật, tài liệu hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan thi hành án dân sự, xác định: Vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo là chiếc điện thoại Samsung galaxy A9 cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước; Các vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội gồm giấy chứng nhận kiểm định, giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, camera hành trình liên quan đến xe ô tô BKS 20A-226.45 cần trả lại cho Công ty cổ phần Ba Sao Thái Nguyên; giấy phép lái xe, chứng minh nhân dân, thẻ VISA, thẻ Ngân hàng…cần trả lại cho bị cáo. Các vật chứng gồm chiếc điện thoại Iphone 11 và số tiền 1.882.000 đồng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. Đối với 01 (một) chứng minh nhân dân số 091838924 mang tên Đào Văn Nghiên, quá trình điều tra, Đào Văn N không đề nghị lấy lại vì đã làm căn cước công dân, do đó cần giao cho Cơ quan quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Bắc Kạn xử lý theo quy định

Trong vụ án còn có có nội dung: Đối với người đàn ông theo lời khai của Lê Huy D đã sử dụng số thuê bao 0928.952.774 để gọi và thuê D chở người Trung quốc nhập cảnh trái phép xác định là đối tượng có vai trò chính trong vụ án. Cơ quan điều tra đã gửi yêu cầu đến Công ty cổ phần viễn thông di động Vietnammobile đề nghị cung cấp thông tin về chủ thuê bao, lịch sử cuộc gọi, nội Dng tin nhắn của số thuê bao 0928.952.774. Trên cơ sở tài liệu do Công ty cổ phần viễn thông di động Vietnammobile cung cấp, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định ủy thác điều tra đến Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Hưng Yên để phối hợp xác minh thông tin về đối tượng Hoàng Việt P, SN: 23/02/1981, số chứng minh nhân dân: 145027734 do Công an tỉnh Hưng Yên cấp ngày 09/10/2012. Hoàng Việt P khai nhận từ trước đến nay không đăng ký, không sử dụng, không cho ai mượn thông tin cá nhân để đăng ký số điện thoại 0928.952.774; P không quen biết ai tên Lê Huy D và chủ sở hữu số điện thoại 0968.274.513. Kết thúc điều tra, cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xem xét xử lý đối với Hoàng Việt P.

Đối với 03 người đàn ông quốc tịch Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam gồm Dao Jun, D Jun Qui và Chen Xiao Xiao, qua điều tra xác định: Dao Jun, D Jun Qui và Chen Xiao Xiao vào Việt Nam để tìm cách sang Lào làm việc, cả ba người đã di chuyển nhiều ngày, qua nhiều địa phương của Trung Quốc và có người dẫn đường đi bộ bằng đường rừng từ Trung Quốc sang Việt Nam. Khi đến Việt Nam có xe máy đợi đón đi đến một địa điểm khác, một lúc sau có 01 xe ô tô taxi đến đón và di chuyển vào nội địa Việt Nam, khi đi được khoảng 02 giờ đồng hồ thì Cơ quan chức năng Việt Nam kiểm tra, lập biên bản. Do di chuyển trong đêm và không thông thuộc địa hình nên ba người không xác định được vị trí, địa điểm đã nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Ngày 20/6/2022, Phòng An ninh đối ngoại Công an tỉnh Bắc Kạn đã phối hợp với Công an tỉnh Cao Bằng và Trạm biên phòng Cửa khẩu Trà Lĩnh Cao Bằng trao trả ba người đàn ông về Trung Quốc theo quy định.

Đối với người đàn ông gọi điện thuê Lê Huy D chở người Trung quốc nhập cảnh trái phép và các đối tượng có hành vi tổ chức, câu kết, móc nối, vận chuyển cho 03 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam ngày 08 và 09/6/2022. Qua điều tra xác định, do không có đủ tài liệu, chứng cứ về nhân thân, lý lịch và quốc tịch của các đối tượng này, nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra xác minh, làm rõ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Huy D phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.

Áp dụng khoản 1 khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Huy D 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phục Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động có ốp bằng da màu đen, nhãn hiệu Samsung galaxy A9, vỏ sau điện thoại màu hồng bị vỡ, màn hình cảm ứng của bị cáo Lê Huy D.

- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Lê Huy D: 01 (Một) điện thoại di động có ốp bằng nhựa màu đen bị vỡ, nhãn hiệu Iphone 11 promax vỏ màu xanh, màn hình cảm ứng và số tiền 1.882.000đ (Một triệu tám trăm tám mươi hai nghìn đồng).

- Trả lại cho bị cáo Lê Huy D gồm:

+ 01 (một) giấy phép lái xe hạng C số 190131013670 mang tên Lê Huy D;

+ 01 (một) giấy CMND số 091839122 mang tên Lê Huy D;

+ 01 (một) ví da màu xanh có một khóa bằng kim loại bên trong có: 01 (một) giấy chứng nhận tập huấn nghiệp vụ lái xe mang tên Lê Huy D; 01 (một) thẻ số hiệu xe ô tô 3462 mang tên Lê Huy D; 02 (hai) thẻ từ thể hiện bảng trạng thái hoạt động của thiết bị; 03 (ba) thẻ VISA của ngân hàng MB, Techcombank, Vietcombank; 01 (một) thẻ ngân hàng BIDV có số dập nổi 9704180103134359 mang tên Lê Huy D; 01 (một) thẻ màu đen có dòng chữ GIANNI VERSACE; 01 (một) thẻ siêu thị số 8888201926860365; 06 (sáu) ảnh thẻ cỡ 3x4cm là ảnh của Lê Huy D.

+ 09 (chín) tờ tiền có màu sắc khác nhau không xác định được mệnh giá.

- Trả lại cho Công ty cổ phần Ba Sao Thái Nguyên (Đại diện là ông Mai Xuân T - Phó Giám đốc) gồm:

+ 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số 0096428, biển đăng ký 20A-226.45;

+ 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số 0184240 mang tên chủ xe “công ty cổ phần ba sao Thái Nguyên”, số BKS 20A-226.45;

+ 01 (một) camera hành trình không rõ nhãn hiệu, một mặt kim loại màu nâu, một mặt nhựa màu đen, bên trong có chứa 01 (một) thẻ nhớ nhãn hiệu “Sandick” dung lượng 32 Gb, phần nhựa có dán 01 (một) tem ghi dòng chữ “NỘI THẤT Ô TÔ RỒNG ĐỎ 2021”.

- Giao cho Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh Bắc Kạn 01 (một) Chứng minh nhân dân số 091838924 mang tên Đào Văn N để xử lý theo quy định.

(Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh Bắc Kạn và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Huy D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ