vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 18/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

52, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 56, Điều 48 BLHS; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 587 BLDS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, m…

Xử phạt: Bị cáo La Văn A 01 năm 01 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù (thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2022) của Bản án số 191/2022/HS-ST ngày 30/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 56, Điều 48 BLHS; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 587 BLDS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, m…
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày 18-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Nguyễn Văn Thái.

Bà Nguyễn Thị Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên

Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Quang A - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Dũng,

tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2022/HSST ngày 11 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022; thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 28/11/2022; quyết định hoãn phiên tòa số 51/2022/HSST- QĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 54/2022/HSST - QĐ ngày 11/01/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: La Văn A, sinh năm 1994 tại Cao Bằng; tên gọi khác: Lã Văn A,

Lã Tuấn A; nơi cư trú: Xóm B, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông La Văn Q và bà Lương Thị L; vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Chưa;

- Tiền án: Bản án số 123 ngày 09/7/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn,

tỉnh Bắc Ninh xử phạt 28 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành án xong hình phạt tù ngày 24/4/2021.

- Nhân thân:

+ Ngày 04/02/2013, bị Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi

phạm hành chính về hành vi “Dùng mìn đánh cá”.

+ Ngày 09/8/2022, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lâm, TP

Hà Nội khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án số 191/2022/HS-ST ngày 30/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù.

Bị cáo hiện đang chấp hành án tại trại giam Thanh Lâm - Bộ Công an. (có mặt

tại phiên tòa).

- Bị hại: Chị Đặng Thị Y, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh

Bắc Giang.(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau: La Văn A, sinh năm 1994 ở xóm B , xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng và Nông Đình T, sinh năm 1994 ở Bản G, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng có quan hệ bạn bè quen biết với nhau và đều ở trọ tại khu công nghiệp Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Do không có tiền chi tiêu cá nhân, nên La Văn A và Nông Đình T cùng rủ nhau, thống nhất đi đến các khu nhà trọ, để tìm trộm cắp xe mô tô đem bán lấy tiền chia nhau.

Khoảng 13 giờ ngày 27/02/2022, T đi xe mô tô biển kiểm soát 11B1-433.16

là xe của chị Nông Thị Đ, sinh năm 1994 ở bản P, xã P, huyện T, tỉnh Cao Bằng là bạn gái T, đang ở trọ tại thôn Đ, phường N, thành phố Bắc Ninh, chở A từ khu nhà trọ của A đi đến địa bàn xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang tìm nhà nào để xe mô tô sơ hở vào trộm cắp đem bán lấy tiền chia nhau.

Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi qua khu vực nhà trọ của gia đình

ông Dương Văn Đ, sinh năm 1960 ở thôn G, xã N, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. A phát hiện thấy khu vực trong sân có nhiều xe mô tô dựng, trong đó có xe mô tô nhãn hiệu Hon da, loại xe Wave, màu sơn xanh, đen, bạc, biển kiểm soát 98L1-070.02 của chị Lăng Thị Y, sinh năm 1997 ở thôn Xóm C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang hiện đang thuê trọ tại nhà ông Đ. Quan sát thấy nhà trọ không khóa cổng, nên A bảo T dừng xe đứng ở ngoài cảnh giới, còn A đem theo 01 chiếc vam phá khóa tự chế vào trong, thấy khu vực trong nhà trọ vắng người qua lại, không có người trông coi, A đi đến vị trí xe mô tô chị Y dựng dùng vam phá được khóa điện rồi dắt xe ra ngoài, A điều khiển xe trộm cắp được, còn T điều khiển xe mô tô đi theo sau. Trên đường đi, A gọi điện qua ứng dụng zalo cho một người tên là D, mà A khai thấy D nói ở tỉnh Lạng Sơn để bán chiếc xe vừa lấy trộm được cho D thì D đồng ý mua với giá 3.500.000đ, sau đó D hướng dẫn A đem chiếc xe trộm cắp đến bến xe khách ở thành phố Bắc Giang gửi xe ô tô khách đi tỉnh Sơn La rồi D sẽ cho người nhận xe. A điều khiển xe mô tô trộm cắp được đi đến bến xe khách tỉnh Bắc Giang gửi chiếc xe trộm cắp được cho 01 nam thanh niên chạy xe khách đi tỉnh Sơn La và cho người nam thanh niên này số điện thoại của D để liên hệ giao nhận xe mô tô. Sau đó, A gọi điện thông báo cho D biết là đã gửi xe và cung cấp số tài khoản Ngân hàng mà trước đó A đặt mua trên mạng cho D biết để D chuyển tiền đến, sau khi nhận được tiền, A đi ra ngoài và cùng T đi về phòng trọ của Anh. Trên đường về, A vào một quán nước ven đường không nhớ địa chỉ chuyển khoản 3.500.000đ cho chủ quán rồi nhờ chủ quán đưa lại bằng tiền mặt. Khi về đến phòng trọ, A đưa cho T chiếc vam phá khóa và chia cho T 1.000.000đ, còn 2.500.000đ A đã chi tiêu cá nhân hết.

Đối với chị Lăng Thị Y, sau khi phát hiện bị mất trộm chiếc xe mô tô, chị Y

đã làm đơn trình báo cơ quan Công an.

Ngày 04/03/2022, Cơ quan điều tra đã thu giữ hình ảnh camera tại khu vực

phòng trọ nhà ông Dương Văn Đông, tiến hành trích xuất camera tại gia đình A Dương Văn Thảo, sinh năm 1989 ở thôn Giá, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang thì phát hiện có hình ảnh đối tượng đã trộm cắp xe mô tô của chị Y đi xe mô tô 11B1-433.16 là xe mô tô chị Nông Thị Đ. Cùng ngày chị Đ đã nộp về cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng chiếc xe mô tô 11B1-433.16 và khai đã cho T mượn.

Ngày 05/03/2022, biết hành vi trộm cắp của mình bị phát hiện Nông Đình T

đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng đầu thú và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO-A16; 01 “vam phá khóa” tự chế; 01 mũ bảo hiểm; 01 áo khoác và 01 Căn cước công dân mang tên Nông Đình T. Còn La Văn A bỏ trốn.

Ngày 07/3/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng đã có

yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô do T và La Văn A đã trộm cắp của chị Y. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 08/03/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Dũng kết luận: Trị giá chiếc xe mô tô 98L1-070.02 do T và La Văn A trộm cắp là 9.663.000đ.

Đối với chị Nông Thị Đ, có hành vi cho T mượn xe mô tô, nhưng chị Đ

không biết T mượn xe mô tô để đi thực hiện hành vi phạm tội, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Với hành vi nêu trên, Nông Đình T đã bị khởi tố, truy tố và bị Toà án nhân

dân huyện Yên Dũng đưa ra xét xử tại bản án số số 40 ngày 22/7/2022.

Do La Văn A bỏ trốn, nên cơ quan điều tra đã tách vụ án, bị can để điều tra

làm rõ bắt được xử lý sau. Ngày 02/8/2022, La Văn A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội thì bị bắt quả tang.

Tại cơ quan điều tra, La Văn A khai nhận đã cùng Nông Đình T thực hiện

hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô ở thôn Giá, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang ngày 27/02/2022, sau đó đem bán cho người tên D không rõ địa chỉ.

Đối với người tên D đã mua chiếc xe mô tô của A và người đàn ông chạy xe

khách tuyến Sơn La, A khai không biết những người này ở đâu, chiếc điện thoại liên lạc với D đã làm rơi mất nên cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được.

Về vật chứng của vụ án: Đã được xử lý tại bản án số 40 ngày 22/7/2022 của

Toà án nhân dân huyện Yên Dũng.

Về trách nhiệm dân sự: Nay chị Đặng Thị Y yêu cầu La Văn A phải bồi

thường 8.000.000đ.

Tại cơ quan điều tra La Văn A thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm

tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản Cáo trạng số 76/CT -VKSYD ngày 02/11/2022 của Viện Kiểm sát

nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo La Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo La Văn A khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản

Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo nhất trí bồi thường số tiền 8.000.000 đồng cho chị Lăng Thị Y. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được

triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng sau khi phân tích, đánh

giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án vẫn giữ nguyên quyết định như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 56 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo La Văn A từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội: “ Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù (thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2022) của Bản án số 191/2022/HS-ST ngày 30/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 585

BLDS: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Y số tiền là 8.000.000 đồng.

- Về án phí: Bị cáo La Văn A được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí

dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an

huyện Yên Dũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị hại là chị Lăng Thị Y vắng mặt. Hội đồng xét xử

căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ.

. Xét về tội danh: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 27/2/2022, tại khu nhà trọ của gia đình ông Dương Văn Đ, sinh năm 1960 ở thôn G, xã N, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. La Văn A cùng Nông Đình T đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô biển kiểm soát 98L1-070.02 trị giá 9.663.000đ của chị Lăng Thị Y, sinh năm 1997 ở thôn Xóm C, xã T, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đang thuê trọ tại gia đình ông Dương Văn Đ, sau đó đem đi tiêu thụ lấy tiền chia nhau sử dụng cá nhân hết. Cơ quan điều tra chưa thu giữ được tang vật để trả bị hại.

Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo La Văn A phạm tội : “Trộm cắp

tài sản", theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 76/CT -VKSYD ngày 02/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với La Văn A là đúng người, đúng tội.

. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi

phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

. Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo La Văn A có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội trong thời gian

chưa được xoá án tích nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng tặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn

năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân

của bị cáo, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung đối với xã hội.

. Đối với Nông Đình T có hành vi đồng phạm với La Văn A trong vụ án

này nhưng đã bị khởi tố, truy tố và bị Toà án nhân dân huyện Yên Dũng đưa ra xét xử tại Bản án số 40 ngày 22/7/2022 nên HĐXX không xem xét.

. Đối với người tên D đã mua chiếc xe mô tô của A và người đàn ông

chạy xe khách tuyến Sơn La, A khai không biết những người này ở đâu, chiếc điện thoại liên lạc với D đã làm rơi mất nên cơ quan điều tra không điều tra làm rõ được và không có căn cứ xử lý là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo không có việc làm, thu nhập không

ổn định, không có tài sản riêng, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số 40 ngày 22/7/2022 của

Toà án nhân dân huyện Yên Dũng nên HĐXX không xem xét.

. Về trách nhiệm dân sự: Chị Lăng Thị Y yêu cầu bị cáo La Văn A phải

bồi thường cho chị số tiền là 8.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo A cũng nhất trí bồi thường số tiền này, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Y là phù hợp với Điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 585, Điều 587 BLDS năm 2015.

. Về án phí: Do Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, nên bị cáo được miễn án

phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình

sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều

52, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 50, Điều 56, Điều 48 BLHS; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 587 BLDS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Xử phạt: Bị cáo La Văn A 01 năm 01 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù (thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2022) của Bản án số 191/2022/HS-ST ngày 30/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 02 năm 01 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo La Văn A phải bồi thường cho chị

Đặng Thị Y số tiền 8.000.000 đồng.

4. Về án phí: Bị cáo La Văn A được miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ

thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật

(đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

7. Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo

quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ