- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Thanh L và đồng phạm "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày 16-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Danh Tuất.
Bà Đoàn Thị Mến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Trang – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần T - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Bùi Thị Thanh L, sinh năm 1999 tại Bình Thuận. Nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Thanh T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ánh N; Con nhỏ nhất sinh năm 2016, con lớn nhất sinh năm 2018; tiền án: không ; tiền sự : không. Bị bắt, tạm giữ ngày 12/7/2022, chuyển tạm giam ngày 20/7/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Hồ Sĩ K, sinh năm 1993 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Ấp A, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: nhân viên điện máy xanh; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Sĩ X và bà Trần Thị H (đã chết); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Bị UBND huyện X áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đia cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng tại Trung tâm Giáo dục - Lao động dạy nghề tỉnh B-VT theo Quyết định số 4966/QĐ-UBND ngày 26/12/2013, chấp hành xong ngày 15/10/2015; Bị bắt, tạm giữ ngày 12/7/2022, chuyển tạm giam ngày 20/7/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Trần Văn D, sinh năm 1993 tại Nam Định. Nơi cư trú: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C (đã chết) và bà Ngô Thị H1; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng, theo Quyết định số 56/QĐ-TA ngày 25/6/2020, chấp hành xong ngày 20/4/2021; Bị bắt, tạm giữ ngày 14/7/2022, chuyển tạm giam ngày 20/7/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Hoàng Thanh D1, sinh năm 1996 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Thanh C1 và bà Nguyễn Thị N1; tiền án: không; tiền sự: không; Bị bắt, tạm giữ ngày 12/7/2022, chuyển tạm giam ngày 20/7/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Văn D2, sinh năm 1995. Trú tại: Tổ A, ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (Vắng mặt).
Người chứng kiến: Nguyễn Thị A, sinh năm 1976. Trú tại: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/7/2022, tại phòng trọ của Bùi Thị Thanh L thuộc ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Bùi Bùi Thị Thanh L rủ Hồ Sĩ K góp tiền mỗi người 150.000 đồng mua ma túy về sử dụng. Kính đồng ý, nhưng không có tiền nên K mượn của L 150.000 đồng góp vào để đi mua ma túy. Sau đó L gọi điện rủ Hoàng Thanh D1 đến cùng góp tiền mua ma tuý về sử dụng, Hoàng Thanh D1 đồng ý và góp 100.000 đồng, nhưng do Hoàng Thanh D1 không có tiền mặt, nên góp bằng giá trị 02 Card điện thoại mỗi card mệnh giá 50.000 đồng đưa cho L. Một lúc sau L điện thoại kêu Trần Văn D đến để cùng sử dụng ma túy, khi Trần Văn D đến L đưa cho Trần Văn D số tiền 550.000 đồng, trong đó có 400.000 để mua ma túy, số tiền còn lại L nhờ Trần Văn D trả nợ và mua C2 điện thoại cho L.
Trần Văn D nhận tiền xong điều khiển mô tô hiệu Honda loại Winner màu đỏ đen, biển số: 72G1- 52.113 đến khu vực cầu F, thuộc ấp P, xã H, huyện X gặp đối tượng tên “Xa” (không tõ nhân thân lai lịch) mua 01 gói ma túy và 01 nỏ thủy tinh với giá 400.000 đồng chạy về phòng trọ đưa 01 gói ma tuý đá kèm theo 01 nỏ thủy tinh, 02 card điện thoại cho L, còn dư 20.000 đồng L nhờ D đi mua thêm cho 01 Card điện thoại. Sau khi Trần Văn D đi mua card điện thoại, Hoàng Thanh D1 đến phòng trọ, K đưa cho Hoàng Thanh D1 gói ma tuý đá cắt đổ vào nỏ thuỷ tinh có sẵn, số còn lại hàn kín lại và để xuống nền nhà để sử dụng sau. Cả 03 người gồm Hoàng Thanh D1, Hồ Sỹ K1 và Bùi Thị Thanh L đang chuẩn bị sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an kiểm tra, K1 lấy gói ma túy dưới nền nhà giấu vào túi áo. Qua kiểm tra phát hiện trong nỏ thuỷ tinh có chứa ma tuý nên yêu cầu các đối tượng còn cất giấu ma tuý mang ra giao nộp, K1 lấy ma tuý cất giấu trong túi áo ra giao nộp. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ ma túy cùng vật chứng.
Sau khi Trần Văn D đi mua card điện thoại, quay lại phòng trọ để sử dụng ma túy thì nghe tin L bị Công an bắt nên trốn về nhà, đến ngày 13/11/2022 lực Lượng Công an mời lên trụ sở để làm việc. Qua làm việc Bùi Thị Thanh L, Hồ Sĩ K, Hoàng Thanh D1 và Trần Văn D đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như trên.
Tại kết luận giám định số 324/KL-KTHS-MT ngày 19 tháng 7 năm 2022 của phòng K2 Công an tỉnh B xác định: Mẫu chất kết tinh, không màu – trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín (Hồ Sĩ Kính giao nộp và thu giữ trong nỏ ngày 11/7/2022) được niêm phong trong một phong bì màu vàng, có hình dấu của Công an xã H cùng các chữ ký ghi họ tên: Đinh Anh T2, Võ Công D3, Nguyễn Thị A, Hồ Sĩ K gửi đến giám định có tổng khối lượng 0,1483 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc trình bày ý kiến luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 01/CT-VKS-XM ngày 03 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đối với các bị cáo Bùi Thị Thanh L, Hồ Sĩ K, Trần Văn D, Hoàng Thanh D1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo Bùi Thị Thanh L, Hồ Sĩ K, Trần Văn D từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù, bị cáo Hoàng Thanh D1 từ 16 (mười sáu) đến 20 (hai mươi) tháng tù.
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, không bào chữa, tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tình tiết vụ án và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/7/2022, tại phòng trọ của Bùi Thị Thanh L thuộc ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Bùi Thị Thanh L đã rủ Hồ Sĩ K, Hoàng Thanh D1 góp tiền mua ma túy về sử dụng. Kính góp 150.000đ, L góp 150.000d, Hoàng Thanh D1 góp 100.000 đồng đưa cho L, rồi L kêu Trần Văn D đến đưa cho D 400.000 đồng đi mua ma túy của một người tên X1 ( không rõ họ tên, địa chỉ) về lại phòng trọ đưa cho L. Khi L, Hoàng Thanh D1 và Hồ Sĩ K đang lấy ma túy bỏ vào nỏ, chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ.
Tại kết luận giám định số 324/KL-KTHS-MT ngày 19 tháng 7 năm 2022 của phòng K2 Công an tỉnh B xác định: Mẫu chất kết tinh, không màu – trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín (Hồ Sĩ Kính giao nộp và thu giữ trong nỏ ngày 11/7/2022) được niêm phong trong một phong bì màu vàng, có hình dấu của Công an xã H cùng các chữ ký ghi họ tên: Đinh Anh T2, Võ Công D3, Nguyễn Thị A, Hồ Sĩ K gửi đến giám định có tổng khối lượng 0,1483 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát truy tố.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và gây mất trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, không bị khiếm khuyết về thể chất và tinh thần, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vì nghiện ma túy mà bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[4] Về tính chất đồng phạm và vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Bùi Thị Thanh L là người khởi xướng và rủ rê các bị cáo khác nên phải chịu mức án cao nhất. Bị cáo Hồ Sĩ K, Hoàng Thanh D1 đều góp tiền để mua ma túy, bị cáo Trần Văn D không góp tiền nhưng là người trực tiếp đi mua ma túy. Do đó ba bị cáo Hồ Sĩ K, Hoàng Thanh D1, Trần Văn D có vai trò ngang nhau và phải chịu mức án ngang nhau.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
01 (Một) phong bì đã được niêm phong có số ký hiệu vụ số 324 ngày 19/7/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh B hoàn trả bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định là tang vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
01 (Một) chai nhựa có ghi chữ Sting; 01 (Một) ống hút; 01 (Một) nỏ thủy tinh là vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
01 (Một) điện thoại OPPO A83 màu đen số IMEI1: 868503038448811 số sêri: OR65BQKF5HR4R4AA (không có sim) là của bị cáo L, dùng để liên lạc rủ các bị cáo khác sử dụng trái phép chất ma túy, liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
01 (Một) xe máy hiệu Honda, loại Winner màu đỏ đen, biển kiểm soát: 72G1 – 521.13, số khung: 260XGY310932, số máy: KC26E1157858 do ông Phạm Thế A1 đứng tên chủ sở hữu, đã bán lại cho ông Trần Văn D2, khi Trần Văn D lấy xe đi mua ma túy thì ông D2 không biết, nên hoàn trả lại cho Trần Văn D2.
[8] Xử lý các vấn đề khác:
Riêng đối tượng tên X1 bán ma túy cho bị cáo D, hiện chưa rõ lai lịch nên cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Thanh L, Hồ Sĩ K, Trần Văn D, Hoàng Thanh D1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thanh L 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2022.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Hồ Sĩ K 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2022.
3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Văn D 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2022.
4. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh D1 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2022.
5. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
01 (Một) phong bì đã được niêm phong có số ký hiệu vụ số 324 ngày 19/7/2022 của Phòng K2 Công an tỉnh B hoàn trả bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định.
01 (Một) chai nhựa có ghi chữ Sting; 01 (Một) ống hút; 01 (Một) nỏ thủy tinh.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại OPPO A83 màu đen số IMEI1: 868503038448811 số sêri: OR65BQKF5HR4R4AA (không có sim).
Hoàn trả lại cho ông Trần Văn D2 01 (Một) xe máy hiệu Honda, loại Winner màu đỏ đen, biển kiểm soát: 72G1 – 521.13, số khung: 260XGY310932, số máy: KC26E1157858.
(Vật chứng thu giữ đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bảo quản theo biên bản giao nhận vật chứng số 16/BB, ngày 05/01/2023).
6. Về án phí: Các bị cáo Bùi Thị Thanh L, Hồ Sĩ K, Trần Văn D, Hoàng Thanh D1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đào Danh Tuất Đoàn Thị Mến
Nguyễn Thị Thảo Sương