- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Giảng Văn Hữu C và Phạm Trường V phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày: 17-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Quốc Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Sơn Thanh Huyền
Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc – Thư ký TAND huyện Vũng Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2022/TLST-HS, ngày 29 tháng 11 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Giảng Văn Hữu C, sinh ngày 25/8/1999; giới tính: Nam; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Giảng Văn T (chết) và bà Phạm Kim H, sinh năm 1980; vợ Danh Thị Minh C, sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/10/2022; Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.
2. Phạm Trường V, sinh ngày 04/11/2000; giới tính: Nam; nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn N, sinh năm 1969 và bà Phạm Thị C, sinh năm 1971; vợ là Bùi Thị Lệ T, sinh năm 1999 (đã ly hôn); con có 01 người sinh năm 2017; chị ruột có 02 người, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/10/2022; Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Phan Khắc Đ, sinh năm 1977 (xin vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện V, Vĩnh Long.
2. Nguyễn Văn H, sinh năm 1950 (xin vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp H1, xã H, huyện V, Vĩnh Long.
3. Nguyễn Hoài T, sinh năm 1978 (xin vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, Vĩnh Long.
- Người làm chứng:
Nguyễn Kim P, sinh năm 1966 (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp R, xã T, huyện V, Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giảng Văn Hữu C và Phạm Trường V quen biết với nhau. Do không có tiền tiêu xài, nên Giảng Văn Hữu C rủ Phạm Trường V đi trộm tài sản của người khác. Cả hai đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 09 giờ ngày 15/8/2022, Giảng Văn Hữu C điều khiển xe môtô 71FL-5701 đến nhà chở Phạm Trường V đi chơi. Khi đi ngang chòi giữ cam của anh Phan Khắc Đ, C thấy cửa đóng khóa và không có người trông giữ, nên C nhìn vào trong căn chòi, thấy có nhiều bao phân bón nên ra xe môtô lấy cây kiềm vào mở khóa cửa, rồi cùng V lấy trộm 04 bao phân nhãn hiệu DAP 20-46-0, loại 50kg/một bao, đem ra để lên xe môtô chạy đi. Khi chạy được khoảng 20m thì xe bị ngã xuống kênh nước. C và V kéo xe môtô cùng 04 bao phân lên bờ, do xe không chạy được nên C và V dẫn xe môtô đi sửa, để lại 04 bao phân trên bờ kênh. Số bao phân này anh Đ đã tìm thấy và đem về sử dụng hết.
Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 14/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vũng Liêm, kết luận: 04 bao phân nhãn hiệu DAP 20-46-0, trọng lượng 50kg một bao (đã sử dụng không còn) có giá trị thành tiền là 3.960.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Khoảng 11 giờ ngày 29/8/2022, V điều khiển xe môtô 71B2-296.31 chở C ngang căn chòi của anh Nguyễn Hoài T không có người trông giữ và bên trong có nhiều thùng phân. C xuống xe gỡ lưới B40 chui vào bên trong chòi, lấy trộm 03 thùng phân đem ra để lên xe, cả hai chở đến cửa hàng vật tư nông nghiệp bán cho bà Nguyễn Kim P bán được 1.500.000 đồng, rồi chia đều mỗi người 750.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 26/KLHĐ-ĐGTS ngày 30/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trà Ôn, kết luận: 03 thùng phân, loại phân tưới cam, chưa qua sử dụng, trọng lượng mỗi thùng 21,5kg; nắp thùng có hình chim đại bàn và có ghi chữ: phân bón cao cấp tan hoàn toàn trong nước, mướt cây xanh lá, tăng đậu trái, lớn trái, chắc hạt; FDA DONG A FERTILZER cho cây hồi sinh của Công ty cổ phần phân bón Đông Á có giá trị thành tiền là 7.200.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, C và V đã đến trả lại tiền cho bà P, lấy lại 03 thùng phân giao nộp cơ quan điều tra. Hiện nay cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại xong.
Vụ thứ ba:
Khoảng 09 giờ ngày 31/8/2022, C điều khiển xe môtô 71B2-296.31 chở V ngang căn chòi của ông Nguyễn Văn H, nhìn thấy cửa đóng khóa không có người trông giữ, bên trong có phân bón. C nhặt đoạn cây đập ổ khóa cửa, cả hai vào trong chòi lấy 04 bao phân gồm: 01 bao phân nhãn hiệu DAP 18-46-0, trọng lượng 50kg; 01 bao phân nhãn hiệu AGRO, đạm tăng trưởng, trọng lượng 50kg và 02 bao phân nhãn hiệu NPK 30-9-9 TE, trọng lượng 25kg/một bao, sau đó đem đến cửa hàng vật tư nông nghiệp của bà Nguyễn Kim P bán được 2.350.000 đồng, rồi chia đều mỗi người 1.150.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, C và V tiếp tục quay lại căn chòi của ông H trộm 01 bao phân nhãn hiệu URE đạm Phú Mỹ, trọng lượng 50kg và 01 bao phân nhãn hiệu NPK 30-9-9 TE, trọng lượng 25kg đem đến bán cho bà P được 950.000 đồng, rồi chia đều mỗi người 450.000 đồng, còn 50.000 đồng dùng đỗ xăng.
Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 14/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vũng Liêm, kết luận:
- 01 bao phân nhãn hiệu DAP 18-46-0, trọng lượng 50kg, trị giá 1.400.000 đồng;
- 01 bao phân nhãn hiệu URE đạm Phú Mỹ, trọng lượng 50kg, trị giá 780.000 đồng;
- 01 bao phân nhãn hiệu AGRO, đạm tăng trưởng, trọng lượng 50kg, trị giá 540.000 đồng;
- 03 bao phân nhãn hiệu NPK 30-9-9 TE, trọng lượng mỗi bao 25kg, trị giá 1.560.000 đồng.
Qua điều tra, C và V đã trả lại tiền cho bà P, lấy lại 06 bao phân giao nộp cơ quan điều tra. Hiện nay cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại xong.
Về trách nhiệm dân sự:
Ông Phan Khắc Đ, ông Nguyễn Hoài T và ông Nguyễn Văn H, đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.
Đối với bà Nguyễn Kim P không đủ cơ sở chứng minh có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nên không xử lý.
Đối với 02 xe môtô 71B2-291.63 và 71FL-5701 là của anh Huỳnh Minh Lvà anh G Võ Duy K cho Giảng Văn Hữu C mượn xe làm phương tiện đi lại, không biết C dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, nên đã trao trả cho chủ sở hữu.
Trong quá trình điều tra, Giảng Văn Hữu C và Phạm Trường V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Cáo trạng số: 54/CT-VKSHVL ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm đã truy tố Giảng Văn Hữu C và Phạm Trường V về tội: Trộm cắp tài sản; theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Giảng Văn Hữu C và Phạm Trường V; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, để tuyên phạt bị cáo Giảng Văn Hữu C mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, để tuyên phạt bị cáo Phạm Trường V mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin được giảm nhẹ hình phạt tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Giảng Văn Hữu C và Phạm Trường V đã thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của điều tra viên, kiểm sát viên và lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và các chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, qua lời khai của các bị cáo đã thể hiện: Giảng Văn Hữu C và Phạm Trường V đã tiến hành thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể: Ngày 15/8/2022, C và V đã trộm của ông Phan Khắc Đ được 04 bao phân nhãn hiệu DAP 20-46-0, trọng lượng 50kg 01 bao, có giá trị thành tiền là 3.960.000đ. Ngày 29/8/2022, C và V đã trộm của ông Nguyễn Hoài T được 03 thùng phân chưa qua sử dụng, loại phân tưới cho cam, nắp thùng có hình chim đại bàng, do Công ty cổ phần phân bón Đông Á sản xuất, trọng lượng mỗi thùng là 21,5kg, có giá trị thành tiền là 7.200.000đ. Ngày 31/8/2022, C và V trộm của ông Nguyễn Văn H được 06 bao phân gồm: 01 bao phân nhãn hiệu DAP 18-46-0, trọng lượng 50kg; 01 bao phân nhãn hiệu AGRO, trọng lượng 50kg; 01 bao phân nhãn hiệu URE đạm Phú Mỹ và 03 bao phân nhãn hiệu NPK 30-9-9 TE, với tổng giá trị thành tiền là 4.280.000đ. Như vậy, qua 03 vụ trộm, C và V đã trộm được tài sản với tổng giá trị thành tiền là 15.440.000đ. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Giảng Văn Hữu C và Phạm Trường V đã phạm vào tội: Trộm cắp tài sản; theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo biết trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi trộm cắp chỉ vì mục đích lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của các bị cáo gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, các bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần, do đó đối với các bị cáo cần có hình phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng:
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, vật chứng gồm: 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 nón bảo hiểm màu tím; 01 nón kết vải màu xám đen; 01 nón kết vải màu đen; 01 áo khoác vải màu đen; 01 quần sọt màu xám; 01 áo sơ mi dài tay; 01 quần jean màu đen; 01 vỏ bao phân nhãn hiệu DAP 20-46-0. Đây là tài sản của các bị cáo, nhưng các bị cáo không yêu cầu nhận lại, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các chứng cứ được đưa ra thẩm tra tại phiên tòa, đã đánh giá đúng hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo. Về đề nghị mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo. Do đó, chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẻ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Giảng Văn Hữu C và Phạm Trường V phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Giảng Văn Hữu C: 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 19/10/2022.
1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Trường V: 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 03/10/2022.
2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác, nên không xem xét.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 nón bảo hiểm màu tím; 01 nón kết vải màu xám đen; 01 nón kết vải màu đen; 01 áo khoác vải màu đen; 01 quần sọt màu xám; 01 áo sơ mi dài tay; 01 quần jean màu đen; 01 vỏ bao phân nhãn hiệu DAP 20-46-0.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền kháng cáo. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long; - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Long; - Viện kiểm sát huyện Vũng Liêm; - Công an huyện Vũng Liêm; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Nhà tạm giữ; Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | Đã ký Triệu Quốc Hiếu |