vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Đ phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Hủy hoại tài sản”. Thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17 tháng 3 năm 2023). 1. Giao bị cáo Nguyễn Bá Đ cho Ủy ban nhân dân xã Canh Vinh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dụ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hủy hoại tái sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Đ phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN CANH
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày: 17-3-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Nhật

Ông Nguyễn Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Vân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Vạn Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Bá Đ (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1969 tại huyện V, tỉnh B; nơi cư trú: Thôn B, xã Canh V, huyện V, tỉnh B; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn M (đã chết) và bà Lê Thị S, sinh năm 1921; có vợ: Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1968; con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 21/11/2022, “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Đình P - Luật sư Công ty Luật TNHH Thuận Cường, chi nhánh thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, “có mặt”.

- Bị hại:

1. Ông Phan Đình T, sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn T, xã Mỹ Đ, huyện Phù M, tỉnh B, “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”;

2. Ông Nguyễn Thanh C, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ 10, khu phố 1, phường Q, thành phố Quy N, tỉnh B, “có mặt”.

3. Ông Trần Vũ M1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ 1, khu phố 1, phường N, thành phố Quy N tỉnh B, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 20/02/2022, Nguyễn Bá Đ đi đến khu vực có tục danh “Hốc Đá” thuộc Thôn B, xã Canh V, huyện V, tỉnh B. Khi đi đến phần cuối các thửa đất khoảnh 2 tờ bản đồ TK340, đoạn giáp bờ sông Nhị Hà của các hộ ông Phan Đình T, sinh năm 1973; trú tại: thôn T, xã Mỹ Đ, huyện Phù M, tỉnh B; Nguyễn Thanh C, sinh năm 1975; trú tại: Tổ 10, Khu phố 1, Q, Tp. Quy N, tỉnh B và Trần Vũ M1, sinh năm 1975; trú tại: Tổ 1, Khu phố 1, N, Tp. Quy N, tỉnh B. Nguyễn Bá Đ cho rằng những người này trồng keo lấn sang diện tích đất có nguồn gốc do mình khai hoang nên đã dùng tay nhổ bỏ và dùng rựa chặt phá 127 (một trăm hai mươi bảy) cây keo ba năm tuổi, đường kính trung bình 06 cm; 193 (một trăm chín mươi ba) cây keo một tháng tuổi, cao trung bình 40 cm của ông Phan Đình T; 702 (bảy trăm lẻ hai) cây keo một tháng tuổi, cao trung bình 40 cm của ông Nguyễn Thanh C và 728 (bảy trăm hai mươi tám) cây keo một tháng tuổi, cao trung bình 40 cm của ông Trần Vũ M1.

Ngày 13/9/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vân Canh kết luận: 127 (một trăm hai mươi bảy) cây keo ba năm tuổi, đường kính 06cm có trị giá 2.667.000 đồng (Hai triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng); 1.623 (Một nghìn sáu trăm hai mươi ba) cây keo một tháng tuổi, cao trung bình 40cm có trị giá 16.230.000 đồng (Mười sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản bị hủy hoại là: 18.897.000 đồng (Mười tám triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn đồng).

Bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSVC ngày 18/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Nguyễn Bá Đ về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi hủy hoại tài sản của các bị hại gồm 127 cây keo ba năm tuổi và 1623 cây keo một tháng tuổi của các bị hại Phan Đình T, Nguyễn Thanh C và Trần Vũ M1 tại khu vực có tục danh “Hốc Đá” thuộc Thôn B, xã Canh V, huyện V, tỉnh B với tổng trị giá tài sản bị thiệt hại được định giá là 18.897.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại với tổng số tiền là 18.900.000 đồng. Bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận.

Các bị hại Phan Đình T, Nguyễn Thanh C và Trần Vũ M1 đã nhận đủ tiền bồi thường thiệt hại, không có ai yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đều xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo là ông Lê Đình P trình bày bản luận cứ: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, Điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Canh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo; người bào chữa cho bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Bá Đ là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã có hành vi hủy hoại tài sản là 127 cây keo ba năm tuổi và 1.623 cây keo một tháng tuổi của các bị hại Phan Đình T, Nguyễn Thanh C và Trần Vũ M1 tại khu vực có tục danh “Hốc Đá” thuộc Thôn B, xã Canh V, huyện V, tỉnh B với tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 18.897.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi hủy hoại tài sản mà bị cáo thực hiện có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, được pháp luật bảo vệ; gây thiệt hại cho các bị hại và làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm bằng pháp luật hình sự và áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Nhận thấy bị cáo có khả năng cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội phù hợp với Nghị quyết số 02/NQ-HĐTPTANDTC ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng đảm bảo mục đích giáo dục bị cáo sửa chữa sai lầm trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng …”. Xét thấy bị cáo thu nhập không ổn định, vì không có việc làm nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và các bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng của vụ án là 01 cây rựa, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng đã xác định không tìm thấy vật chứng (Theo biên bản truy tìm vật chứng ngày 08/9/2022) nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý về vật chứng.

Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Bá Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo áp dụng hình phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá Đ phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá Đ 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Hủy hoại tài sản”. Thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17 tháng 3 năm 2023).

2.1. Giao bị cáo Nguyễn Bá Đ cho Ủy ban nhân dân xã Canh Vinh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

2.2. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Bá Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ