vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 11/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Điểm a, c khoản 1 Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày: 11-01-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân và bà Phạm Thị Liễu

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 173/2022/HS-ST ngày 22 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh C (Tên gọi khác: Nguyễn Thành C, L) – sinh năm 1990, tại Đồng Nai

Nơi cư trú: Ấp BM, xã PT, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh K – sinh năm 1965 và bà Trần Thị T – sinh năm 1966; Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 09/5/2017, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Hiếp dâm”, ngày 16/10/2021 chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/7/2009, Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng 11 ngày tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Dâm ô đối với trẻ em”; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2022. (Có mặt)

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Mỹ L – sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp PD, xã PB, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng: (Vắng mặt)

1/ Bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1962

Địa chỉ: Ấp PD, xã PB, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

2/ Bà Đoàn Thị S – sinh năm 1980

Địa chỉ: Ấp PD, xã PB, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

3/ Bà Dƣơng Thị T1 – sinh năm 1959

Địa chỉ: Ấp 1, xã Phú Thịnh, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

4/ Bà Nguyễn Thị Yến T3 – sinh năm 1974

Địa chỉ: Ấp PD, xã PB, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh C thỉnh thoảng có đến uống nước tại quán cà phê Zalo thuộc Ấp PD, xã PB, huyện Tân Phú, nên có gặp và biết Nguyễn Thị Mỹ L là nhân viên phục vụ quán, C có làm quen và xin được số điện thoại của L để liên lạc. Cũng tại quán Zalo, C có quen và biết với nhân viên quán tên “N” (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch), N có hỏi mượn C số tiền 1.000.000 đồng nhưng C chưa cho mượn; sau đó, C nói sự việc trên cho L biết và L nói không liên quan. Đến ngày 05/9/2022, C nghi ngờ L nói chuyện của N cho mọi người biết nên có gọi điện thoại cho L hai lần nhưng L không bắt máy. Khoảng 14 giờ cùng ngày, C đi đến phòng số 10, nhà trọ Nguyễn Thị Tin thuộc Ấp PD, xã PB, nơi L đang thuê trọ để gọi cửa, C liền hỏi sự việc sao L nói chuyện của N cho mọi người nghe thì L nói không biết, không liên quan. Lúc này, C xông đến dùng tay nắm cổ L và chửi “địt mẹ mày, tao đập chết mẹ mày” rồi dùng tay đấm vào mặt L và đẩy L ngã xuống đất, dùng chân đá vào người L, dùng tay đấm vào mặt L. Thấy L bị đánh những người hàng xóm đến can ngăn và nói báo công an thì C hù dọa không cho ai can ngăn, C tiếp tục dùng tay, chân đánh đá lên người của L. Sau đó, C được một người bạn tên Bu (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) chở đi còn L được người dân đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Tân Phú.

Ngày 07/10/2022, Nguyễn Thị Mỹ L làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Nguyễn Thanh C về tội Cố ý gây thương tích. Đến ngày 04/11/2022, Nguyễn Thanh C đến Công an xã PT đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1046/TgT/2022 ngày 30/9/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đông Nai kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo mi dưới mắt trái (bờ trên gò má trái gần mi dưới mắt trái) kích thước 01x0,2cm, tỷ lệ 03%. Sẹo ngực phải kích thước 04x0,2cm, tỷ lệ 01%. Vết biến đổi sắc tố da gối phải, tỷ lệ 01%. Không định tỷ lệ cho chấn thương đầu, tai trái, cổ, vai phải, hông lưng phải và cánh tay phải hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Thị Mỹ L là 05%; Vật gây thương tích là vật tày.

Theo Cáo trạng số 10/CT-VKSTP-ĐN ngày 21/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh C về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh C mức án 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Về trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi cố ý gây thương tích, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối hận, nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, Hồ sơ bệnh án, Bản kết luận giám định pháp y về thương tích, Biên bản nhận dạng, Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, Sơ đồ hiện trường... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Nguyễn Thanh C và Nguyễn Thị Mỹ L chỉ có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội, không có mâu thuẫn gì trong cuộc sống. Khoảng 14 giờ ngày 05/9/2022, tại Ấp PD, xã PB, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, chỉ vì nghi ngờ L nói chuyện N (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mượn tiền của C cho mọi người nghe nên C đã tìm đến phòng trọ của L, dùng tay, chân đấm, đá liên tiếp vào người L gây thương tích với tỷ lệ 5%.

Hành vi của Nguyễn Thanh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án, sau khi chấp hành xong hình phạt ngày 16/10/2021, chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú.

Bị cáo có nhân thân xấu.

Căn cứ quyết định hình phạt:

Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến đến sức khỏe của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Dâm ô đối với trẻ em” và “Hiếp dâm”, nhưng không nhận thức tu dưỡng bản thân lại tiếp tục có hành vi phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Hành vi của bị cáo thể hiện thái độ xem thường pháp luật của Nhà nước, đã gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Bị cáo cho rằng bị hại kể chuyện của bị cáo cho N (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) mượn tiền nhưng bị cáo lại không có căn cứ; bản thân bị cáo và bị hại chỉ có mối quan hệ quen biết ngoài xã hội, không có mâu thuẫn gì trong cuộc sống nhưng bị cáo lại ngang ngược thực hiện hành vi cố ý gây thương tích tại phòng trọ của bị hại dù được nhiều người can ngăn nhưng vẫn tiếp tục gây thương tích cho bị hại, sau khi phạm tội đã bỏ trốn; là thể hiện tính chất côn đồ. Đây là tình tiết định tội “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

Về biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Mỹ L yêu cầu bồi thường số tiền 9.300.000 đồng, bị cáo hiện chưa bồi thường. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền 9.300.000 đồng nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Các vấn đề khác: Bị cáo trình bày việc cho đối tượng tên N mượn tiền và việc đối tượng tên Bu chở bị cáo rời đi sau khi bị cáo gây thương tích cho bị hại nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch và chưa lấy lời khai được đối với N và Bu. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan điều tra cấp có thẩm quyền tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có kết quả xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134; khoản 1 Điều 46; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

- Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Các Điều 288, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587 và Điều 590 Bộ luật Dân sự;

- Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Điểm a, c khoản 1 Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh C 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/11/2022.

2. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh C có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Mỹ L số tiền 9.300.000 đồng (Chín triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 465.000đ (Bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ