- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Văn C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––––– Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày 10 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Công Trọng và bà Đinh Thị Phong.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Lạc.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Than - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09, 10 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Quách Văn C (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/5/1978 tại Tân Lạc - Hòa Bình; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn Ch1 (Đã chết) và bà Quách Thị D1 (Đã chết); bị cáo có vợ là Bùi Thị H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa có tiền án, tiền sự; Bị tạm giam từ ngày 25/8/2022 đến ngày 06/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đàm Văn V là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
Bị hại: Anh Hà Công D, sinh năm 2003; nơi cư trú: Khu MĐ, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Quách Văn T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Anh Bùi Văn B, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Anh Hà Công H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Khu MĐ, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
Những người làm chứng:
- Anh Quách Văn Ph, sinh năm 1966; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Anh Quách Văn Ch, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Anh Quách Văn Ph, sinh năm 1968; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Anh Quách Thế A, sinh năm 1983; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Anh Bùi Văn Tr, sinh năm 1997; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, không lý do.
- Anh Bùi Thương Ph1, sinh năm 1997; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, không lý do.
- Anh Bùi Văn Ph2, sinh năm 2003; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Anh Bùi Văn B1, sinh năm 1995; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, không lý do.
- Anh Bùi Văn H1, sinh năm 2000; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Anh Bùi Văn Tr1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 2001; nơi cư trú: Khu MK, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, không lý do.
- Anh Bùi Văn Th, sinh năm 2002; nơi cư trú: Khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/4/2022, Quách Văn C, Quách Văn T, Bùi Văn B, Quách Văn Ch, Bùi Văn Tr1, Quách Văn Ph và một số người khách của gia đình anh Ph cùng ăn cơm, uống rượu ở nhà anh Ph tại khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hoà Bình.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Quách Văn Ph, Quách Văn Ch, Bùi Văn Tr1 tiễn một số người cùng ăn cơm tại nhà anh Ph ra xe ô tô đỗ ngoài cổng để đi về. Lúc này, Bùi Thương Ph1 và Bùi Văn H1 đi chung xe mô tô do Bùi Văn H1 điều khiển đi đến cổng nhà anh Ph thì dừng xe lại, do có xe ô tô đang lùi ra đường. Thấy vậy, Bùi Thương Ph1 nói “Thích chặn đường à”, khi đó Ch và Tr1 ở gần đó nghe thấy. Sau khi thông đường, H1 điều khiển xe mô tô tiến lên phía trước khoảng 10 mét thì dừng lại để đợi bạn. Ch và Tr1 đi bộ đến chỗ Bùi Thương Ph1 và H1. Ch nói với Bùi Thương Ph1 “Mày thích cái gì”, Ph1 trả lời “Thích cái gì”. Sau đó, Ch đã tát vào mặt Bùi Thương Ph1 và đẩy Ph1 ngã xuống đường. Quá trình Ch và Bùi Thương Ph1 xô sát với nhau có Bùi Văn B1, Bùi Văn Ph2, Bùi Văn Th là bạn của Bùi Thương Ph1 đi đến và cùng với H1, Tr1 vào can ngăn, nên không xảy ra xô sát nữa. Sau đó, Ch và Tr1 quay lại nhà anh Ph để ăn cơm. Tại đây, Ch đã kể lại việc vừa xảy ra xô sát với Bùi Thương Ph1 cho Quách Văn C, Quách Văn T, Bùi Văn B và Quách Văn Ph biết.
Khi nhóm của Bùi Thương Ph1, H1, B1, Ph2, Th cùng nhau đi ra khu Chiềng Khến thì gặp Bùi Văn Tr, Hà Công D và Nguyễn Văn Q. Khi đó, Bùi Thương Ph1 đã kể lại việc mình vừa bị Ch đánh, nên mọi người rủ nhau quay lại nhà anh Ph để tìm Ch nói chuyện.
Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, nhóm của Bùi Thương Ph1 đi đến đoạn đường rẽ lên nhà anh Ph. Tại đây, Th, B1, Bùi Thương Ph1 và Ph2 đứng ở dưới đường, còn H1, Tr, D và Q đi lên sân nhà anh Ph. Lúc này, Quách Văn C, Bùi Văn B, Quách Văn T, Quách Văn Ph, Bùi Văn Tr1, Quách Văn Ch vẫn đang ăn cơm ở nhà anh Ph. Nghe thấy có tiếng ồn ào ngoài sân, Quách Văn Ph ra để hỏi chuyện gì thì D, Tr, Q nói muốn tìm Ch. Quách Văn Ph không cho nhóm D vào nhà và dùng hai tay đùn đẩy D, Tr, Q ra đường bê tông hướng xuống dưới đường liên xã. Khi đó, D đã rút thắt lưng ở quần đang mặc và vụt hai cái theo chiều hướng từ trên xuống dưới vào người anh Quách Văn Ph, còn Tr xông vào đấm hai cái vào người anh Ph. Lúc này, Quách Văn C, Quách Văn T và Bùi Văn B đi từ trong nhà ra và đứng ở sân nhà anh Ph. Thấy Quách Văn Ph bị đánh, nên Quách Văn C chạy đến can ngăn và xô đẩy D, Q, Tr ra ngoài cổng. Trong quá trình xô đẩy, Quách Văn C bị ngã xuống đất. Sau đó, Quách Văn C đứng dậy, nhặt lấy một gậy gỗ là cọc rào vườn nhà anh Ph, rồi đuổi theo nhóm của D. Còn Quách Văn T và Bùi Văn B mỗi người cũng nhặt một gậy cọc rào bằng tre ở hàng rào vườn nhà anh Ph và đuổi theo nhóm của D. Hà Công D là người chạy sau cùng, nên Quách Văn C đuổi kịp và tại vị trí cách D khoảng 1,5 mét thì Quách Văn C dùng hai tay cầm gậy vụt một cái từ trên xuống dưới, từ trái qua phải vào chân trái của D, làm D ngã xuống ở tư thế hai đầu gối, hai bàn tay tiếp đất. C tiếp tục cầm gậy bằng hai tay giơ lên bên phải rồi nhằm vào phần lưng, vai của D đập thêm một cái nữa theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Ngay lúc đó, D quay mặt lại phía C trong tư thế đứng dậy để chạy, nên đã bị đập trúng vào phần thái dương trái đầu của D. Thấy D hai tay ôm đầu thì C không đánh nữa và lùi lại phía sau. Lúc này, Quách Văn T chạy đến, mặc dù T không nhìn thấy C đánh D, nhưng thấy D đang đứng dậy để chạy thì dùng gậy tre đập hai cái vào vùng lưng, vai của D. Sau đó, D hai tay ôm đầu và tiếp tục bỏ chạy theo hướng đi xã Lỗ Sơn. Lúc này, Bùi Văn B chạy đến chỗ C và T đứng nhìn thấy Bùi Văn Tr đứng cách khoảng 03 mét về hướng đường đi xã Lỗ Sơn. Bùi Văn B đã cầm gậy đập một cái vào mặt, một cái vào bụng của Tr và Tr bỏ chạy. Sau đó, C, T và B vứt gậy vào vườn nhà anh Ph rồi quay vào trong nhà anh Ph.
Sau khi sự việc xảy ra, Hà Công D đã được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Viện Quân y 103. Bùi Văn Tr và Quách Văn Ph đưa đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 103/TgT, ngày 13/6/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Hoà Bình đối với Hà Công D kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Vết sẹo vùng đầu; Chấn thương sọ não: Vỡ lún xương trán thái dương trái, dập não, tụ máu ngoài màng cứng đã được phẫu thuật. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 27% (Hai mươi bảy phần trăm). Đặc điểm vật gây thương tích: Vật tày.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 104/TgT, ngày 13/6/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Hoà Bình đối với Bùi Văn Tr kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Vết sẹo cung lông mày phải; Vết biến sắc tố da mi dưới mắt phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 04% (Bốn phần trăm). Đặc điểm vật gây thương tích: Vật tày.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 105/TgT, ngày 13/6/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Hoà Bình đối với Quách Văn Ph kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Hai vết biến đổi sắc tố da cánh tay phải tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01% (Một phần trăm); Vết biến đổi sắc tố da ngón V bàn tay phải tỷ lên tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 0,5% (Không phẩy năm phần trăm); Vết biến đổi sắc tố da khuỷu tay trái tỷ lên tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 0,5% (Không phẩy năm phần trăm). Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02% (Hai phần trăm). Đặc điểm vật gây thương tích: Vật tày.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 30/12/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc đã truy tố Quách Văn C về tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa, bị cáo Quách Văn C một lần nữa khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã gây ra thương tích cho anh Hà Công D như cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố. Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng, không kêu oan.
* Đối với những người làm chứng là Quách Văn Ph, Quách Văn Ch, Quách Văn Ph, Quách Thế A, Bùi Văn Ph2, Bùi Văn H1, Bùi Văn Tr1, Bùi Văn Th và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Quách Văn T, Bùi Văn B, Hà Công H có mặt tại phiên tòa. Lời khai của những người làm chứng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nêu trên phù hợp với các tình tiết có trong hồ sơ vụ án.
* Đối với những người làm chứng là Bùi Thương Ph1, Bùi Văn Tr1, Bùi Văn B1 và Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa. Lời khai của những người làm chứng này có trong giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét công khai tại phiên toà.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Quách Văn C phạm tội cố ý gây thương tích; xử phạt bị cáo từ 30 (Ba mươi) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu đề tiêu hủy một gậy gỗ, màu xanh nâu, dài 170 cm mà bị cáo Quách Văn C sử dụng gây thương tích cho Hà Công D; một đoạn gậy tre hình tròn, màu nâu đen, dài 218 cm mà Quách Văn T sử dụng đánh Hà Công Duy; một đoạn gậy tre hình tròn, màu nâu đen, dài 148 cm mà Bùi Văn B sử dụng gây thương tích cho Bùi Văn Tr; một dây thắt lưng bằng hợp chất (dạng da) màu nâu đen, dài 108 cm mà Hà Công D sử dụng gây thương tích cho Quách Văn Ph.
- Về trách nhiệm dân sự, bị cáo Quách Văn C và bị hại Hà Công D đã thỏa thuận là bị cáo Quách Văn C phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Hà Công D số tiền là 180.000.000 (Một trăm tám mươi triệu) đồng; Bị cáo Quách Văn C đã trả cho anh Hà Công D được 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng; Bị cáo Quách Văn C còn phải trả cho anh Hà Công D số tiền còn lại là 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng vào ngày 30/6/2023. Đề nghị công nhận sự thỏa thuận này.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
* Các ý kiến tranh luận:
Người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo Quách Văn C: Nhất trí với Cáo trạng và luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc đối với bị cáo Quách Văn C về tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Nhất trí với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự như đại diện Viện Kiểm sát đã đề nghị. Bị cáo là người có nhân thân tốt. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo với mức thấp nhất và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Quách Văn C nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa. Không bổ sung ý kiến bào chữa.
Bị hại Hà Công D nhất trí với luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc đối với bị cáo Quách Văn C. Không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Quách Văn T, Bùi Văn B và Hà Công H: Không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát.
* Lời nói sau cùng của bị cáo Quách Văn C: Bị cáo đã gây ra thương tích cho anh Hà Công D là vi phạm pháp luật. Bị cáo nhất thời phạm tội. Bị cáo rất hối hận và sẽ không bao giờ tái phạm. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án treo thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Về chứng cứ kết tội bị cáo: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc thu thập hợp pháp gồm: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 03/5/2022; Biên bản bản nhận dạng ngày 06/5/2022 của bị cáo Quách Văn C đối với bị hại Hà Công D; Biên bản bản nhận dạng ngày 14/7/2022 của bị cáo Quách Văn C đối với chiếc gậy gỗ mà bị cáo đã sử dụng gây thương tích cho Hà Công D; Vật chứng thu được của bị cáo Quách Văn C là một gậy gỗ, màu xanh nâu, dài 170 cm mà bị cáo đã sử dụng gây thương tích cho Hà Công D Kết luận giám định pháp y về thương tích số 103/TgT ngày 13/6/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Hoà Bình đối với bị hại Hà Công D; các biên bản ghi lời khai của những người tham gia tố tụng, biên bản hỏi cung bị can trong quá trình điều tra, truy tố và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa.
Xét thấy lời khai của bị cáo Quách Văn C trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường. Được chứng minh bằng lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Hoà Bình đối với bị hại Hà Công D cùng toàn bộ các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 30/4/2022, tại khu MV, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hoà Bình. Bị cáo Quách Văn C khi thấy anh trai của mình là Quách Văn Ph bị Hà Công D và Bùi Văn Tr đánh, nên bị cáo C đã chạy đến can ngăn. Trong quá trình can ngăn, bị cáo C bị ngã xuống đất. Sau đó, bị cáo C đứng dậy và nhặt một gậy gỗ là cọc rào vườn nhà anh Ph, rồi đuổi theo nhóm của D. Khi bị cáo C đuổi theo Hà Công D khoảng 04 đến 05 mét thì kịp D. Tại vị trí cách D khoảng 1,5 mét, bị cáo C dùng hai tay cầm gậy vụt một cái từ trên xuống dưới, từ trái qua phải vào chân trái của D, làm D ngã xuống ở tư thế hai đầu gối, hai bàn tay tiếp đất. Sau đó, bị cáo C tiếp tục cầm gậy bằng hai tay giơ lên bên phải rồi nhằm vào phần lưng, vai của D đập thêm một cái nữa, theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Ngay lúc đó, do bị hại D quay mặt lại phía bị cáo C trong tư thế đứng dậy để chạy, nên đã bị đập trúng vào phần thái dương trái đầu của D. Hành vi nêu trên của bị cáo C đã gây thương tích cho Hà Công D với tỷ lệ tổn thương cơ thể do gây tích gây nên là 27% (Hai mươi bảy phần trăm).
Bị cáo Quách Văn C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo gây ra thương tích cho anh Hà Công D nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi cố ý gây thương tích mà bị cáo đã thực hiện có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng và luận tội của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Các ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo thuộc hộ cận nghèo của địa phương nhưng bị cáo và gia đình của bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại cho bị hại được 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra. Bị cáo là người có nhân thân tốt. Từ năm 1998 đến năm 2001 tham gia nghĩa vụ quan sự và được đơn vị tặng Giấy khen; từ năm 2001 đến năm 2003, làm Bí thư Chi đoàn, kiêm Tổ phó Tổ an ninh khu MV; từ năm 2004 đến năm 2018, làm Thôn Đội trưởng, Tổ phó Tổ an ninh, Tổ phó Tổ bảo vệ rừng, kiêm Thú y viên khu MV; từ tháng 01/2021 đến tháng 8/2022, làm Trưởng Ban công tác Mặt trận khu MV. Bị cáo có bố tham gia dân công hoả tuyến. Mặt khác, tại phiên tòa bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định và có nhân thân tốt. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Đối với Quách Văn T là người đã dùng gậy đập một cái vào vai, một cái vào lưng của Hà Công D nhưng không gây ra thương tích cho D. Hành vi của Quách Văn T không có sự bàn bạc, thống nhất với bị cáo Quách Văn C, nên không đồng phạm với bị cáo C trong vụ án này. Hành vi của Quách Văn T nêu trên đã bị Công an huyện Tân Lạc đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 6.500.000 (Sáu triệu năm trăm nghìn) đồng, nên không xem xét xử lý.
Đối với Bùi Văn B đã có hành vi dùng gậy tre đập vào vùng mặt và vùng bụng Bùi Văn Tr, gây ra thương tích cho anh Tr là 04%. Hành vi của Bùi Văn B có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, do anh Tr đã có đơn yêu cầu không khởi tố đối với vụ việc trên. Do đó, Công an huyện Tân Lạc đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Văn B 6.500.000 (Sáu triệu năm trăm nghìn) đồng, nên không xem xét xử lý.
Đối với Hà Công D và Bùi Văn Tr đã có hành vi đánh anh Quách Văn Ph, gây ra thương tích cho anh Quách Văn Ph là 02%. Hành vi của Hà Công D và Bùi Văn Tr có dấu hiệu của tội phạm Cố ý gây thương tích theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, do anh Quách Văn Ph đã có đơn yêu cầu không khởi tố đối với vụ việc trên. Do đó, Công an huyện Tân Lạc đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Công D và Bùi Văn Tr, mỗi người 6.500.000 (Sáu triệu năm trăm nghìn) đồng, nên không xem xét xử lý.
Đối với anh Hà Công H (Bố của bị hại Hà Công D) là người chăm sóc cho Hà Công D trong thời gian điều trị thương tích. Do bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Hà Công D, trong đó có cả chi phí cho người chăm sóc bị hại. Về phía anh H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì nữa, nên không xem xét đến.
Xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với một gậy gỗ, màu xanh nâu, dài 170 cm mà bị cáo Quách Văn C sử dụng gây thương tích cho Hà Công D; một đoạn gậy tre hình tròn, màu nâu đen, dài 218 cm mà Quách Văn T sử dụng đánh Hà Công D; một đoạn gậy tre hình tròn, màu nâu đen, dài 148 cm mà Bùi Văn B sử dụng gây thương tích cho Bùi Văn Tr; một dây thắt lưng bằng hợp chất (dạng da) màu nâu đen, dài 108 cm mà Hà Công D sử dụng gây thương tích cho Quách Văn Ph. Xét các vật chứng nêu trên là công cụ dùng vào việc phạm tội, nên phải tịch thu để tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự:
Giữa bị cáo Quách Văn C và bị hại Hà Công D đã thỏa thuận là bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại với tổng số tiền là 180.000.000 (Một trăm tám mươi triệu) đồng. Tính đến ngày 28/02/2023, bị cáo Quách Văn C đã bồi thường thiệt hại cho bị hại được 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng. Số tiền 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng còn lại, các bên thỏa thuận sẽ thanh toán vào ngày 30/6/2023. Xét thấy thỏa thuận trên là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên công nhận sự thỏa thuận này.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về án phí dân sự sơ thẩm, do bị cáo thuộc hộ cận hộ nghèo tại địa phương và bị cáo đã có đơn xin miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Quách Văn C phạm tội cố ý gây thương tích.
Xử phạt bị cáo Quách Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 10/3/2023).
Giao bị cáo Quách Văn C cho Ủy ban nhân dân thị trấn Mãn Đức, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu hủy của bị cáo Quách Văn C 01 (Một) gậy gỗ, màu xanh nâu, dài 170 cm. Đoạn gậy phần to nhất có đường kính 04 cm, đoạn gậy phần nhỏ nhất có đường kính 03 cm. Tại phần đầu to được vót một đoạn dài 11 cm, phần đầu nhỏ nhất có đường kính 02 cm. Cách đầu to 48 cm có một đốt cây. Tại phần đốt có góc cạnh, bờ mép sắc gọn.
Tịch thu để tiêu hủy của anh Quách Văn T 01 (Một) đoạn gậy tre hình tròn, màu nâu đen, dài 218 cm, hai đầu nhọn, thân cây đã khô, trên thân phẳng, nhẵn. Phần đầu to có đường kính 04 cm, phần đầu nhỏ có đường kính 03 cm. Phần đầu to được vót nhọt một đoạn dài 20 cm. Tại phần đầu to bị vỡ một đoạn dài 122 cm. Tại phần đầu nhỏ bị vỡ một đoạn dài 50 cm.
Tịch thu để tiêu hủy của anh Bùi Văn B 01 (Một) đoạn gậy tre hình tròn màu nâu đen dài 148 cm, hai đầu tù. Thân cây đã khô. Phần đầu to nhất có đường kính 04 cm, phần đầu nhỏ nhất có đường kính 03 cm. Trên thân cây bị vỡ một đoạn dài 130 cm.
Tịch thu để tiêu hủy của anh Hà Công D 01 (một) dây thắt lưng bằng hợp chất (dạng da) màu nâu đen dài 108 cm, rộng 03 cm, hai đầu tù (cũ đã qua sử dụng). Một đầu để gắn với một mặt khoá bằng kim loại dài 08 cm, rộng 04 cm, ốp kính màu đen, trên mặt có ghi chữ Dunhill.
(Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Lạc theo biên bản giao nhận vật chứng số 10/BB-THA, ngày 16/02/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Lạc).
3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự.
Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Quách Văn C với bị hại Hà Công D về bồi thường thiệt hại. Cụ thể: Bị cáo Quách Văn C phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Hà Công D số tiền là 180.000.000 (Một trăm tám mươi triệu) đồng; Bị cáo Quách Văn C đã trả cho anh Hà Công D được 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng; Bị cáo Quách Văn C còn phải trả cho anh Hà Công D số tiền còn lại là 90.000.000 (Chín mươi triệu) đồng vào ngày 30/6/2023.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Quách Văn C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Quách Văn C.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xin xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình; - Phòng hồ sơ CA tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Tân Lạc; - CQĐT Công an huyện Tân Lạc; - Cơ quan THA hình sự; - Chi cục THA dân sự; - Bị cáo; - Bị hại; - Người bào chữa; - Người có QLNV liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Mạnh |