vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Hoàng T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS - ST
Ngày: 15 -02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Nhân và Ông Đỗ Cao Thế.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Mỹ Lợi, Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Phan Bảo Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2023/TLST- HS ngày 16/01/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 01/02/2023 đối với bị cáo: Hoàng T, sinh ngày 15/01/2000. Nguyên quán: xã L, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố V, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 11/12; con ông Hoàng N và bà Nguyễn Thị T.

Tiền sự: Không

Tiền án: Có 02 tiền án. Ngày 28/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03/3/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Nhân thân: Ngày 10/4/2018 bị Ủy ban nhân dân thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” số tiền 2.000.000 đồng, đã thi hành xong. Ngày 01/10/2020 bị Công an huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, số tiền 1.500.000 đồng, đã thi hành xong. Ngày 27/11/2020 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác, đã thi hành.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Ninh từ ngày 09/11/2022 sau đó chuyển đi Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Phạm Quốc Q, sinh năm 1980, địa chỉ: TDP V, TT Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, nghề nghiệp: Buôn bán, có mặt tại phiên tòa.

2. Bà Võ Thị Thu T, sinh năm 1982, địa chỉ: TDP V, TT Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, nghề nghiệp: Buôn bán, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Mậu C, sinh năm 1958, địa chỉ: TDP 11, phường Đ, TP Đ, tỉnh Q, nghề nghiệp: Buôn bán, vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 31/10/2022, Hoàng T, đi bộ từ nhà dọc theo đường Quốc lộ 1A phía bên trái hướng về Đồng Hới. Khi đi đến quán ăn H, ở số 22 đường H, tổ dân phố V, thị trấn Q, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, T thấy 01 (một) xe mô tô BKS: 73G1-018.54 nhãn hiệu Honda loại AIRBLADE màu trắng, đỏ của anh Phạm Quốc Q, sinh năm 1980, ở cùng TDP V, dựng trên vỉa hè trước quán, có chìa khóa gắn sẵn ở trên xe, T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T lén lút lấy trộm xe mô tô BKS: 73G1-018.54, sau khi trộm được xe, T mở cốp xe thấy trong cốp có 01 (một) ví da màu đen, T mở ví ra lấy trộm 105.000đ (một trăm lẻ năm nghìn đồng) trong ví, sau đó T điều khiển xe mô tô vừa lấy trộm được đến nhà ông Ngô Mậu C, sinh năm 1958, ở phường Đ, thành phố Đ cầm cố lấy số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), số tiền trên T đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 08/11/2022 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quảng Ninh định giá và kết luận:

- 01 (một) xe mô tô BKS: 73G1-018.54 nhãn hiệu Honda loại AIRBLADE màu trắng, đỏ có số máy: 0947859; số khung: 827905, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong có giá trị còn lại là: 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng)

- 01 (một) ví da màu đen, đã qua sử dụng có kích thước (18x12)cm, trên ví da có dòng chữ MONTOBLANC giá trị còn lại là: 50.000đ (năm mươi nghìn đồng).

Về việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:

- Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

Ngày 07/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh đã tiến hành tạm giữ: 01 (một) xe mô tô BKS: 73G1-018.54 nhãn hiệu Honda loại AIRBLADE màu trắng, đỏ có số máy: 0947859; số khung: 827905, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy BKS: 73G1 – 018.54, mang tên Võ Thị Thu T, ở TK 2, thị trấn Q, huyện Q, Quảng Bình do Công an huyện Quảng Ninh cấp ngày 28/11/2012. 01 (một) ví da màu đen, đã qua sử dụng có kích thước (18x12)cm, trên ví da có dòng chữ MONTOBLANC.

- Việc xử lý vật chứng: Ngày 02/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Ninh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại toàn bộ tài sản trên cho anh Phạm Quốc Q, sinh năm 1980, chỗ ở tổ dân phố P, thị trấn Q, Quảng Ninh, Quảng Bình là chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Quốc Q và chị Võ Thị Thu T đã nhận lại được tài sản, không có yêu cầu gì thêm.

Ông Ngô Mậu C yêu cầu Hoàng T trả lại số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) ông C đưa cho T khi Thành đến cầm cố xe.

Tại bản cáo trạng số: 04/CT-VKS -KT ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất ăn năn hối cải nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Xuất phát từ động cơ hám lợi và ý thức coi thường pháp luật vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 31/10/2022 Hoàng T đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích đã lén lút thực hiện trộm cắp tài sản của vợ chồng anh Pham Quốc Q và chị Võ Thị Thu T 01 (một) xe mô tô BKS: 73G1-018.54 nhãn hiệu Honda loại AIRBLADE màu trắng, trong cốp có 01 (một) ví da màu đen, và có số tiền 105.000đ (một trăm lẻ năm nghìn đồng) trong ví. Ngày 08/11/2022 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quảng Ninh định giá và kết luận: 01 (một) xe mô tô BKS: 73G1-018.54 nhãn hiệu Honda loại AIRBLADE màu trắng, đỏ có số máy: 0947859; số khung: 827905, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong có giá trị còn lại là: 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng). 01 (một) ví da màu đen, đã qua sử dụng có kích thước (18x12)cm, trên ví da có dòng chữ MONTOBLANC giá trị còn lại là: 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Tổng trị giá thiệt hại là 12.655.000 (mười hai triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có 02 (hai) tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”: Ngày 28/12/2020 T bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03/3/2021, T bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra bị cáo có nhân thân: Ngày 10/4/2018 bị Ủy ban nhân dân thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” số tiền 2.000.000 đồng , đã thi hành xong. Ngày 01/10/2020 bị Công an huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, số tiền 1.500.000 đồng, đã thi hành xong. Ngày 27/11/2020 bị Công an thành phố Đồng Hới xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác, đã thi hành Đáng lẽ phải lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân để tích cực rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội. Qua đó thể hiện bị cáo có nhân thân không tốt, là người khó giáo dục cải tạo. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội mà chưa xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình trả lại cho ông Ngô Mậu C số tiền 1.000.000 đồng từ việc cầm cố xe mô tô BKS: 73G1-018.54. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Đối với ông Ngô Mậu C, là người nhận cầm cố xe mô tô BKS: 73G1-018.54 do Hoàng T trộm cắp được, ông C không hề biết đó là tài sản do Thành trộm cắp mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Phạm Quốc Q và chị Võ Thị Thu T không yêu cầu gì thêm nên miễn xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Mậu C đã nhận số tiền 1.000.000 đồng từ việc cầm cố xe mô tô BKS: 73G1-018.54 và không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.

Vật chứng: Đã xử lý ở giai đoạn điều tra nên miễn xét.

Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vụ án có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, điểm g khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, khoản 1 Điều 298, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hoàng T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/11/2022.

2. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: xử buộc bị cáo Hoàng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/02/2023), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú có quyền kháng cáo bản án để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ