vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội Tuyên án 29/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Nguyễn Khánh L 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Khánh L phải hoàn trả cho anh Đỗ Tiến T số tiền 5.500.000đ. (Năm triệu năm trăm nghìn đồng). Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Linh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Khánh L 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2022.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự Xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚC THỌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 07/2023/HS-ST
Ngày: 09 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thu Hương và ông Lê Xuân Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Ngọc- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 01 năm 2023 , đối với bị cáo:

Nguyễn Khánh L, sinh năm 1992 tại xã Thái Hòa, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội; nơi thường trú: Tổ 7, phường Tân Thịnh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 8; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Chiến (c) và bà Nguyễn Thị Hồng; chưa có vợ, con; Tiền án: Bản án số 60/2017/HSST ngày 25/07/2017, TAND thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình xử 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, L chưa thi hành khoản bồi thường thiệt hại; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 111/HSST/2010 ngày 25/06/2010, TAND quận Cầu Giấy xử 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Cưỡng đoạt tài sản; Bản án số 23/2011/HSST ngày 26/4/2011, TAND thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp với hình phạt của bản án số 111/HSST/2010 ngày 25/06/2010 của TAND quận Cầu Giấy, Linh phải chấp hành hình phạt chung 19 tháng tù. Ngày 19/01/2012, L chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/11/2022 đến nay. “có mặt”

Bị hại: Anh Đỗ Tiến T, sinh năm 1997

Địa chỉ: Khu 6, xã Đỗ Xuyên, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. “có mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Văn N, sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn Thái Bình, xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Khánh L và anh Đỗ Tiến T cùng làm việc cho anh Kiều Văn Hùng tại xưởng cơ khí thuộc tổ dân phố số 2, thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội và ngủ cùng giường tại tầng 1.

Khoảng 06 giờ 00 ngày 04/04/2022, Linh ngủ dậy thấy anh T vẫn đang ngủ say, L nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy của T đem bán lấy tiền tiều sài cá nhân. Biết anh T để chìa khóa xe máy dưới đệm đầu giường ngủ, L lật đệm lấy chìa khoá xe máy của anh T ra xe nổ máy rồi đi về nhà ở thôn Trung Hà, xã Thái Hoà, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội (nhà này chỉ có một mình L ở). Trên đường đi, L dừng xe máy mở cốp xe kiểm tra thì thấy cốp xe có một ví da màu đen bên trong có một giấy đăng ký xe máy, một giấy phép lái xe máy, một thẻ ATM, một chứng minh thư tất cả đều mang tên Đỗ Tiến T và số tiền 90.000 đồng. L cầm ra một giấy đăng ký xe máy và một giấy phép lái xe với mục đích khi bán xe máy thì đưa ra để tạo lòng tin là xe chính chủ, còn lại số giấy tờ và tài sản khác, L vẫn để trong cốp xe máy. Khoảng gần 11 giờ cùng ngày, khi đi qua khu vực chợ Mơ, thuộc xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, L vào cửa hàng bán điện thoại di động Hoàng Ninh Mobile tại ven đường (do anh Lê Văn N là chủ). L nói xe chính chủ muốn tìm người mua rồi đưa cho anh N xem giấy đăng ký xe máy. Anh N hỏi cho xem chứng minh thư thì L nói dối là đang làm và đưa cho anh N xem giấy phép lái xe. Thấy giấy đăng ký xe và giấy phép lái xe đều mang tên Đỗ Tiến T nên anh N tin tưởng L là Đỗ Tiến T và là chủ sở hữu chiếc xe máy nên đồng ý mua với giá 13.000.000 đồng. L đồng ý bán và xin N giữ xe máy này trong vòng 10 ngày, nếu quá 10 ngày không đến chuộc thì sẽ là bán đứt xe luôn thì anh N có đồng ý. L viết giấy bán xe máy cho anh N lấy tên là Đỗ Tiến T. Số tiền bán xe, L đã tiêu sài cá nhân hết 5.500.000 đồng.

Khoảng hơn 12 giờ 00’ ngày 04/04/2022, anh T gọi điện cho L hỏi có đi xe máy của anh T không thì L nhận đi xe máy của anh T và nói dối là đi hết việc này đến việc khác, tý nữa về. Đến lần thứ ba khi anh T lại gọi điện hỏi xe thì L nói đã cắm xe máy của T rồi. Anh T nói sẽ trình báo công an. Sáng ngày 05/04/2022, L có liên hệ với N xin chuộc lại xe máy trên. Anh N đồng ý và cho L số tài khoản 19034501345018 ngân hàng Teachcombank mang tên LE VAN N cho L. L gọi điện nói thật với anh T là đã bán xe máy của anh T tại cửa hàng điện thoại Hoàng Ninh Mobile ở Chợ Mơ, Ba Vì với giá 13.000.000 đồng nhưng đã tiêu hết 5.500.000 đồng, chỉ còn 7.500.000 đồng nên bảo T đến cửa hàng bù thêm 5.500.000 đồng để lấy lại xe. L ra chợ Mơ thấy cửa hàng điện thoại di động “Sơn Mobile” có đề làm dịch vụ chuyển tiền nên nhờ anh Phùng Thế Sơn chuyển số tiền 7.500.000 đồng đến số tài khoản 19034501345018 ngân hàng Teachcombank của anh N. L báo lại cho anh T biết đã trả cho anh N 7.500.000đồng rồi bỏ đi lang thang. Sáng ngày 21/11/2022, khi L đang lang thang trên đường thuộc thôn Đình Giữa, xã Bình Phú, huyện Thạch Thất thì bị bắt.

Đối với anh Đỗ Tiến T khi thấy L nói vậy, đã đến Công an trình báo sự việc đồng thời anh T đưa 5.500.000 đồng cho anh N để chuộc lại xe máy.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ một số vật chứng, giấy tờ, gồm:

- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HonDa Wave α, biển kiểm soát 19K1-41101, số máy: JA39E2326436, số khung: RLHJA3924MY207120, màu sơn: Trắng, đen, bạc;

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 1903544;

- 01 (một) giấy phép lái xe mô tô mang tên Đỗ Tiến T;

- 01 (một) ví da, màu đen, bên trong có 01 (một) thẻ ATM, 01 (một) chứng minh thư nhân dân mang tên Đỗ Tiến T và số tiền 90.000 đồng (chín mươi nghìn đồng).

- 01 (một) bản viết tay giấy bán xe máy của L cho anh N;

- 01 (một) ảnh người đàn ông đã bán xe cho anh N do anh N dùng điện thoại chụp.

- Thu của Nguyễn Khánh L 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 Pro, màu xanh có gắn sim.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/2022/KL-HĐĐGTS ngày 22/4/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên huyện Phúc Thọ kết luận giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 19K1-41101 có số khung: RLHJA3924MY207120, số máy: JA39E-2326436, đăng ký lần đầu vào ngày 27/10/2021 tại thời điểm bị chiếm đoạt (ngày 04/4/2022) là 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng).

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 26/12/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Khánh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Khánh L 12-15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Không phạt hình phạt bổ sung. Ngoài ra còn đề nghị về bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phúc Thọ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Khánh L khai: Khoảng 06 giờ 00 ngày 04/04/2022, L ngủ dậy thấy anh T vẫn đang ngủ say, nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy của T đem bán lấy tiền tiều sài cá nhân. L lấy chìa khoá xe máy của anh T để dưới đệm đầu giường ngủ, ra xe nổ máy rồi đi về nhà ở thôn Trung Hà, xã Thái Hoà, huyện Ba Vì, TP. Hà Nội Khoảng gần 11 giờ cùng ngày, khi đi qua khu vực chợ Mơ, thuộc xã Đồng Thái, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, L vào cửa hàng bán điện thoại di động Hoàng Ninh Mobile tại ven đường (do anh Lê Văn N là chủ). L nói xe chính chủ muốn tìm người mua rồi đưa cho anh N xem giấy đăng ký xe máy và giấy phép lái xe. Thấy giấy đăng ký xe và giấy phép lái xe đều mang tên Đỗ Tiến T nên anh N tưởng L là Đỗ Tiến T và là chủ sở hữu chiếc xe máy nên đồng ý mua với giá 13.000.000 đồng. L đồng ý bán và xin anh N giữ xe máy này trong vòng 10 ngày, nếu quá 10 ngày không đến chuộc thì sẽ là bán đứt xe luôn thì anh N đồng ý. viết giấy bán xe máy cho anh N lấy tên là Đỗ Tiến T. Số tiền bán xe, L đã tiêu sài cá nhân hết 5.500.000 đồng. Khi anh T gọi điện thoại hỏi L về xe máy của anh T, lúc đầu L nói dối là mượn đi chỗ này chỗ kia, sau đó thì nói thật đã bán và đã tiêu hết 5.500.000đồng và bảo anh T mang 5.500.000đồng đến chuộc xe về rồi L bỏ trốn đến ngày 21/11/2022 thì bị bắt.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ kết luận: Ngày 04/4/2022, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Nguyễn Khánh L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HonDa Wave α, biển kiểm soát 19K1-41101, trị giá 14.000.000 đồng, bên trong cốp xe có 90.000 đồng (tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 14.090.000 đồng) của anh Đỗ Tiến T để tại xưởng cơ khí của anh Kiều Văn Hùng ở tổ dân phố số 2, thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.

Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Bị cáo có 01 tiền án nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm; nhân thân bị cáo đã từng bị Tòa án xử về tội Cưỡng đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản, vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Tòa án cũng xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, đã khắc phục một phần hậu quả là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt. Tại phiên tòa, anh T yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 5.500.000đồng do anh đã trả cho anh N để chuộc xe máy do L bán. L đồng ý trả cho anh T số tiền này. Xét thỏa thuận này là tự nguyện, phù hợp qui định của pháp luật nên chấp nhận. [5]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Đỗ Tiến T: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HonDa Wave α, biển kiểm soát 19K1-41101, số máy: JA39E2326436, số khung: RLHJA3924MY207120, màu sơn: Trắng, đen, bạc; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 1903544; 01 (một) giấy phép lái xe mô tô mang tên Đỗ Tiến T; 01 (một) ví da, màu đen; 01 (một) thẻ ATM; 01 (một) chứng minh thư nhân dân mang tên Đỗ Tiến T và số tiền 90.000 đồng (chín mươi nghìn đồng). Anh T đã nhận lại các tài sản, giấy tờ trên và không yêu cầu gì khác nên Tòa án không xem xét.

Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 Pro, màu xanh đã cũ có gắn sim thu của Nguyễn Khánh L là tài sản của L không liên quan đến vụ án nên trả lại cho L.

. Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

. Đối với anh Lê Văn N là người đã mua chiếc xe máy là tài sản của L đã trộm cắp được của anh T. Khi mua xe, anh N không biết đó là tài sản do L trộm cắp mà có vì vậy, Cơ quan điều không đưa ra hình thức xử lý đối với anh N là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt: Nguyễn Khánh L 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Khánh L phải hoàn trả cho anh Đỗ Tiến T số tiền 5.500.000đ. (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Trả lại Nguyễn Khánh L 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 11 Pro, màu xanh đã cũ có gắn sim. (Biên bản giao, nhận ngày 06/01/2023)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Khánh L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về lãi suất chậm trả: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì còn phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo sự thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Về thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ