vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 22/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lâm N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Phạt bị cáo Lâm N 05 (năm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 01 năm 2023. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Lâm N là người dân tộc … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÂM N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST.
Ngày: 22 - 5 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hòa Hợp.

Ông Nguyễn Thanh Rực.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Hà Quang Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm N; sinh năm 1996; nơi sinh: tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm L, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Mai Thị S, sinh năm 1955 (đã chết); sống chung như vợ chồng với bà Liên Thị T, sinh năm 2000 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2018 và nhỏ nhất sinh năm 2022; anh em ruột có 05 người, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 26 tháng 01 năm 2023 đến ngày 29 tháng 01 năm 2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ: đường V, phường x, thành phố T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị hại: Ông Lý Thanh B, sinh ngày 30/11/1994; nơi cư trú: Ấp K, xã P, huyện X, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác (người làm chứng):

1. Ông Lâm T, sinh ngày 01/01/1982; nơi cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bà Thạch Thị N, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

3. Bà Lâm Thị Nguyệt N, sinh ngày 12/12/2002; nơi cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

4. Bà Mai Thị T, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

5. Ông Danh T, sinh ngày 01/01/1982; nơi cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lâm N là chú ruột của Lâm Thị Nguyệt N; Lý Thanh B là bạn trai của N; giữa N và B không có mâu thuẫn với nhau. Vào ngày 30/4/2022, Lý Thanh B đến nhà Lâm Thị Nguyệt N chơi, đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi đã uống rượu thì Lâm N và Lâm T (T là anh ruột của Lâm N, là cha của N) có tham gia chơi bông vụ được thua bằng T tại trước nhà Danh T thuộc Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, đến khoảng 20 giờ cùng ngày có xảy ra cự cải liên quan tới việc chơi bông vụ. Lúc này, N cùng mẹ là bà Thạch Thị N đi đến kêu ông T về nhà và kêu những người tham gia chơi bông vụ nghỉ chơi, N cho rằng N có lời nói hỗn với mình nên N dùng tay đánh một cái trúng vào vùng mặt của N làm N té xuống đất, B thấy N đánh N nên chạy lại can ngăn và xảy ra xô xát, đánh nhau bằng tay với N. Lúc này, N tức giận bỏ chạy về nhà và ra phía sau bếp lấy 02 cây dao bằng kim loại, tay phải N cầm cây dao dài khoảng 35cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại bén một bên; tay trái N cầm cây dao dài khoảng 40cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại bén một bên rồi chạy ra sân nhà N. Thấy vậy, Danh T đến can ngăn N nhưng không được. Thấy N cầm 02 cây dao nên B bỏ chạy, N cầm 02 cây dao trên tay và đuổi theo B; khi B chạy đến khu vực chuồng bò trước sân nhà bà Lâm Thị Hiền thì B bị ngã xuống đất nên N đuổi kịp và cầm cây dao trên tay phải chém 01 cái về phía B, B đưa tay trái lên đỡ thì trúng vào bàn tay trái của B, N tiếp tục cầm dao trên tay phải chém về phía B thì trúng vào vùng đầu bên trái của B. Lúc này, N biết là chém trúng đầu của B nên N dừng lại không chém nữa, Lâm T nghe tiếng la của B thì chạy lại can ngăn; còn N cầm 02 cây dao đi về nhà, trên đường đi về nhà thì N vứt bỏ 02 cây dao. Sau đó, N bỏ trốn khỏi địa phương, còn B được đưa đi cấp cứu và điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ từ ngày 30/4/2022 đến ngày 06/5/2022 thì điều trị khỏi và xuất viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 272/TgT-PY ngày 20/6/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng kết luận về thương tích của Lý Thanh B, như sau:

- Sẹo hình chữ U vùng thái dương trái, kích thước 20cm x 01cm, bề mặt bờ vết sắc gọn, nứt sọ thái dương trái, tụ khí nội sọ, tụ máu dưới màng cứng thái dương trái, dập não thái dương trái, đã được phẩu thuật sọ não, khuyết sọ thái dương trái kích thước 10cm x 06cm; đáy phập phòng, chưa ghi nhận di chứng chức năng thần kinh; Căn cứ vào Bảng I, Chương 8, Mục I.3 tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%; Bảng I, Chương 1, Mục I.5.3 tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 31% và Bảng I, Chương 1, Mục III.1 tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 21%.

- Sẹo dẫn lưu vùng thái dương - đỉnh trái, kích thước 01cm x 01cm. Căn cứ vào Bảng 1, Chương 8, Mục I.2 tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02%.

- Sẹo phức tạp từ mặt mu đến mặt lòng đốt bàn ngón II bàn tay trái, kích thước 06cm x 0,6cm, bề mặt bờ vết sắc gọn, gãy xương bàn 2 tay trái, ảnh hưởng chức năng bàn - ngón II tay trái; Căn cứ vào Bảng I, Chương 8, Mục I.3 tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03 % và Bảng 1, Chương 7, Mục V.4.2 tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15 %.

- Tổng tỷ lệ 57%. Thương tích vùng đầu nằm ở vùng nguy hiểm đến tính mạng. Thương tích có đặc điểm do vật sắc gây nên.

Tại Công văn số 105/TTPY-GĐTH ngày 28/6/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng xác định: Nếu không tính tỷ lệ phần trăm sẹo dẫn lưu thái dương

- đỉnh trái, kích thước 02cm x 01cm thì tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây hiện tại của Lý Thanh B là 56%.

Xét thấy có đủ căn cứ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lâm N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và ra lệnh bắt tạm giam nhưng Lâm N đã bỏ trốn, đến ngày 26/01/2023 thì bị cáo ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 04/CT-VKS-LP ngày 17/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lâm N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự).

Bị cáo Lâm N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như đã nêu trên.

Tại các lời khai trong quá trình điều tra và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị hại Lý Thanh B đề nghị Hội đồng xét xử: Về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lâm N đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Bởi vì, giữa bị cáo Lâm N và bị hại Lý Thanh B không có mâu thuẫn, nhưng do bực tức việc N dùng tay đánh Lâm Thị Nguyệt N thì Lý Thanh B chạy lại can ngăn và xảy ra xô xát với N nên N lấy 02 cây dao bằng kim loại sắc bén là hung khí nguy hiểm chém trúng bàn tay trái và vùng thái dương trái của bị hại Lý Thanh B gây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 56%. Hành vi do bị cáo Lâm N thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác nên cần phải xử lý nghiêm. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lâm N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lâm N từ 05 năm đến 06 năm tù. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã tổ chức cho truy tìm nhưng không thu hồi được nên không đặt ra xem xét. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lý Thanh B không yêu cầu bị cáo Lâm N bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Hồng T bào chữa cho bị cáo Lâm N cho rằng: Thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân của bị cáo Lâm N có nhân thân tốt, bị cáo không biết chữ, là người dân tộc Khmer và cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên trình độ nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có 03 người con nhỏ chỉ có vợ bị cáo lao động để nuôi dưỡng; đồng thời, do bị hại có thái độ ứng xử chưa đúng mực với bị cáo là dùng tay đánh bị cáo nên bị cáo tức giận đã chạy về nhà lấy dao đuổi theo bị hại rồi dẫn đến sự việc bị cáo chém bị hại gây thương tích và khi bị cáo biết đã chém trúng vùng đầu bị hại thì tự ý dừng lại hành vi của mình. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưỡng mức án 05 năm tù cũng đủ để răng đe, giáo dục bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lâm N: Bị cáo nhận thấy hành vi mà bị cáo đã thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Long Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại Lý Thanh B, người làm chứng Lâm Thị Nguyệt N, Mai Thị T, Danh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, bị hại B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bà N, bà T và ông T1 vắng mặt không có lý do. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, xét sự vắng mặt của bị hại và người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa căn cứ vào Điều 292, Điều 293 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên toà, bị cáo Lâm N khai nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 30/4/2023, tại Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng do bực tức sự việc N dùng tay đánh Lâm Thị Nguyệt N thì Lý Thanh B chạy lại can ngăn và xảy ra xô xát với N nên N chạy về nhà và ra phía sau bếp lấy 02 cây dao bằng kim loại, tay phải N cầm cây dao dài khoảng 35cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại bén một bên; tay trái N cầm cây dao dài khoảng 40cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại bén một bên rồi chạy ra sân nhà N thì Danh T đến can ngăn N nhưng không được. Khi thấy N cầm 02 cây dao nên B bỏ chạy, N cầm 02 cây dao trên tay và đuổi theo B, khi B chạy đến khu vực chuồng bò trước sân nhà bà Lâm Thị H thì bị ngã xuống đất nên N đuổi kịp và cầm cây dao trên tay phải chém 01 cái về phía B, B đưa tay trái lên đỡ thì trúng vào bàn tay trái, N tiếp tục cầm dao trên tay phải chém về phía B thì trúng vào vùng đầu bên trái của B. Theo kết luận giám định và Văn bản trả lời của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng xác định bị hại Lý Thanh B bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 56%.

Lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Nhận định về hành vi phạm tội và tội danh của bị cáo:

Do bực tức sự việc N dùng tay đánh Lâm Thị Nguyệt N thì Lý Thanh B chạy lại can ngăn và xảy ra xô xát với N nên vào khoảng 20 giờ ngày 30/4/2023, tại Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Lâm N đã lấy 02 cây dao, tay phải N cầm cây dao dài khoảng 35cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại bén một bên; tay trái N cầm cây dao dài khoảng 40cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại bén một bên là hung khí nguy hiểm rồi chạy đuổi theo B và cầm cây dao trên tay phải chém 01 cái trúng vào bàn tay trái của B rồi tiếp tục cầm dao trên tay phải chém trúng vào vùng đầu bên trái của B gây tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 56%. Vì vậy, hành vi bị cáo Lâm N thực hiện đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Mặt khác, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện là người bình thường có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã thực hiện cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 04/CT-VKS-LP ngày 17/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú truy tố bị cáo Lâm N về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đảm bảo công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới tại địa phương và có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lâm N nhận thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc Khmer cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và không biết chữ nên khả năng nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, sau khi bị truy nã thì bị cáo ra đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, không còn tình tiết nào để xem xét giảm nhẹ thêm cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Phú đã tổ chức cho bị cáo truy tìm nhưng không thu hồi được nên không đặt ra xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lý Thanh B không yêu cầu bị cáo Lâm N bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo và xét đề nghị của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lâm N.

2. Tuyên bố: Bị cáo Lâm N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

3. Phạt bị cáo Lâm N 05 (năm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 01 năm 2023.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Lâm N là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ