vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 16/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Trọng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Đinh Trọng T 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Trọng T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07/2023/HS-ST
Ngày 15/02/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Cao Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Doãn.

Ông Lê Lý Bằng

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với:

Bị cáo Đinh Trọng T; sinh ngày 19/7/1998 tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 17/12/2018 bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/11/2022 đến nay. Có mặt.

Bị hại:

1. Bà La Thị S, sinh năm 1961. Có mặt.

2. Cháu Lê Minh K, sinh ngày 14/5/2014. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp cho cháu Lê Minh Kiệt: Chị Lê Thị T, sinh năm 1990 (Mẹ đẻ cháu K). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đều có địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2002. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

2. Ông Hoàng Trung T, sinh năm 1963. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

3. Bà Trần Thị T, sinh năm 1976. Vắng mặt

4. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1985. Vắng mặt

Đều có địa chỉ: Tiểu Khu 3, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h ngày 21/11/2022, Đinh Trọng T cầm theo kìm cộng lực dài 45cm, màu vàng đi bộ từ nhà mình đến nhà bà La Thị S cùng thôn để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, thấy cửa cổng khóa, trong nhà không có người, T đi vòng ra phía sau chui qua bờ rào vào sân nhà bà S thấy cửa chính đóng khóa, T dùng kìm cộng lực cắt khóa cửa rồi đi vào phòng ngủ bên trái, T mở cánh cửa tủ nhựa đựng quần áo thì thấy có 01 con lợn đất màu đỏ. T lấy con lợn đất đập xuống nền nhà rồi lấy toàn bộ số tiền trong con lợn đất bỏ vào túi quần phía sau. Sau đó, T tiếp tục đi sang phòng ngủ bên phải lục tìm trong túi áo khoác màu đen đang treo trên giá, thấy có tiền T lấy toàn bộ số tiền bỏ vào túi quần sau rồi theo đường cũ ra ngoài. Tài đi theo đường núi phía sau nhà bà S rồi vứt chiếc kìm cộng lực xuống bãi cỏ cách nhà bà Sơn khoảng 30m rồi đi về nhà mình. Về nhà, T đếm tổng số tiền trộm cắp được là 21.800.000 đồng. Tối cùng ngày, T đến quán điện thoại T của gia đình chị Trần Thị T ở thị trấn H, huyện H chuộc lại chiếc điện thoại Iphone 11 của chị Nguyễn Thị T đã cắm trước đó với giá 2.080.000 đồng. Ngày 22/11/2022, Tài và chị Nguyễn Thị T bắt taxi đến nhà ông Hoàng Trung T ở thôn Đ, xã V, huyện N xin ở nhờ để T cai nghiện ma túy. Trên đường đi, T đưa cho chị T 16.000.000 đồng và không nói cho chị T biết số tiền đó là do trộm cắp mà có. Đến nhà ông T, chị T đưa cho ông T 7.000.000 đồng để ông T lo việc ăn, ngủ, mua quần áo cho T trong quá trình cai nghiện ma túy tại nhà ông T. Số tiền còn lại T khai đã mua ma túy hết.

Ngày 23/11/2022, bà La Thị S đến Công an xã T trình báo về việc bị mất trộm cắp tài sản là 01 con lợn đất bên trong có khoảng 17.000.000 đồng và số tiền trong túi áo khoác màu đen khoảng 25.000.000 đồng. Tổng số tiền gia đình bà S bị trộm cắp khoảng 42.000.000 đồng. Ngoài ra, bà Sơn còn giao nộp 01 chiếc khóa nhãn hiệu VIETIEP màu đen - trắng cùng 01 con lợn đất màu đỏ, làm bằng sứ, bị vỡ thành 12 mảnh nhỏ.

Ngày 24/11/2022, Đinh Trọng T đã đến Công an xã Triệu Lộc đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, Công an xã T đã bàn giao hồ sơ vụ việc, vật chứng thu giữ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện H để giải quyết theo thẩm quyền

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 31/LKX-ĐCSHS ngày 24/11/2022 khám xét chỗ ở của Đinh Trọng T nhưng không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án. Quá trình xác định hiện trường vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thu giữ 01 chiếc kìm cộng lực dài 45cm, màu vàng. Bị hại bà La Thị S không đề nghị định giá tài sản đối với con lợn đất và chiếc khóa cửa đã bị hư hỏng.

Quá trình điều tra, bà La Thị S khai báo số tiền bà S và cháu nội là Lê Minh K bỏ trong con lợn đất khoảng 17.000.000 đồng và số tiền bà Sơn bỏ trong túi áo màu đen khoảng 25.000.000 đồng, bà Sơn không nhớ được số tiền cụ thể. Do đó, chỉ có cơ sở để buộc Đinh Trọng T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng số tài sản mà Tài đã khai báo là 21.800.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại số tiền 7.000.000 đồng cho bị hại bà La Thị S do ông Hoàng Trung T giao nộp là tiền trước đó Tài đã đưa cho ông T để cai nghiện. Số vật chứng gồm: 01 chiếc kìm cộng lực màu vàng, có chiều dài 45cm; 01 con lợn đất màu đỏ bị vỡ thành 12 mảnh nhỏ; 01 chiếc khóa nhãn hiệu VIETIEP màu đen - trắng, phần móc khóa bị gãy hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, chờ xử lý.

Về bồi thường dân sự: Tại phiên toà bà Nguyễn Thị T (mẹ bị cáo T) đã bồi thường cho bà La Thị S số tiền 5.000.000 đồng, số tiền còn lại bà La Thị S và cháu Lê Minh K yêu cầu Đinh Trọng T bồi thường tiếp cho gia đình bà.

Cáo trạng số 11/CT-VKSHL ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Đinh Trọng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về bồi thường dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của BLHS; Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Đinh Trọng T phải bồi thường cho bà La Thị S và cháu Lê Minh K số tiền còn lại là 9.800.000 đồng.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con lợn đất màu đỏ bị vở thành 12 mảnh nhỏ; 01 chiếc khóa nhãn hiệu Viettiep màu đen trắng, phần móc khóa bị đứa gãy; 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu vàng chiều dài 45cm, tay cầm bằng cao su màu đen, trên kìm có ký hiệu BEST-ONE,18-450 và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận gì và lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15h30’ ngày 21/11/2022 Đinh Trọng Tài đã thực hiện hành vi trộm cắp tổng số tiền 21.800.000 đồng của gia đình bà La Thị Sơn.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác của bị cáo Đinh Trọng T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm, hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi lợi dụng chủ sở hữu tài sản vắng nhà, lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó cần phải có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và giáo dục chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án nay tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách niệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đầu thú khai báo về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên toà bị cáo đã tác động với gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó cần áp dụng các quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về bồi thường dân sự: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của bà La Thị S và cháu Lê Minh K là 21.800.000 đồng, bà Sơn đã nhận lại số tiền 7.000.000 đồng từ Công an huyện H do ông T giao nộp cho Công an. Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị T (mẹ bị cáo T) bồi thường cho bà La Thị S số tiền 5.000.000 đồng, còn lại 9.800.000 đồng bà S yêu cầu bị cáo bồi thường nên chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường cho bà S và cháu K.

Về vật chứng: 01 con lợn đất màu đỏ bị vở thành 12 mảnh nhỏ; 01 chiếc khóa nhãn hiệu Viettiep màu đen trắng, phần móc khóa bị đứa gãy; 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu vàng chiều dài 45cm, tay cầm bằng cao su màu đen, trên kìm có ký hiệu BEST-ONE,18-450 là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp miễn án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 584, 585, 589; 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Khoản 1 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Trọng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Trọng T 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2022.

Về bồi thường dân sự: Buộc Đinh Trọng T phải bồi thường cho bà La Thị S và cháu Lê Minh K (người đại diện hợp pháp cho cháu Kiệt là chị Lê Thị T) số tiền 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm nghìn đồng).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con lợn đất màu đỏ bị vỡ thành 12 mảnh nhỏ; 01 chiếc khóa nhãn hiệu Viettiep màu đen trắng, phần móc khóa bị đứa gãy; 01 kìm cộng lực bằng kim loại màu vàng chiều dài 45cm, tay cầm bằng cao su màu đen, trên kìm có ký hiệu BEST-ONE,18-450. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 16/BBVC-CCTHA ngày 16/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H).

Án phí: Buộc bị cáo Đinh Trọng T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 490.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6 ,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ