- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản đối với bị cáo Nguyễn Văn Linh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H TỈNH BẠC LIÊU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày 11/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lil và ông Nguyễn Văn Tịnh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ Hxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm: 1992 tại Đ H ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Kinh X, xã Định Thành A, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Nguyễn Văn A (đã chết) và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1958; Anh, chị em ruột: 04 người, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1994; bị cáo chưa có vợ;
Tiền án: 02 lần, cụ thể: Ngày 20/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đ H tuyên phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 24/11/2015 nhưng chưa được xóa án tích.
Ngày 18/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Đ H tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 16/12/2020 nhưng chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Bị cáo Nguyễn Văn L bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2022 cho đến nay (bị cáo có mặt)
Bị hại: 1. Anh Trương Văn Đợi, sinh năm 1994 (vắng mặt)
2. Chị Lê Thị Lanh, sinh năm 1981(vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Chòi Mòi, xã Định Thành, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu.
3. Ông Trịnh Văn Hoàng, sinh năm 1953 (vắng mặt)
4. Anh Trần Út Cưng, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Lung Chim, xã Định Thành, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 12/5/2022, bị cáo Nguyễn Văn L đi bộ trên đường lộ nhựa thuộc ấp Chòi M, xã Định Th, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu tìm nhà nào sơ hở trong quản lý tài sản thì vào lấy cắp. Khi đi ngang nhà anh Trương Văn Đ ở địa chỉ trên, bị cáo vào chuồng heo lấy cắp một con gà trống rồi bỏ đi. Bị cáo tiếp tục đi đến nhà chị Lê Thị L ở gần đó đột nhập vô nhà rồi vào trong phòng ngủ lấy trộm một điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh đang sạc pin trên bàn. Sau đó bị cáo đi đến nhà anh Nguyễn Văn D ở ấp Lung Ch, xã Định Th, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu nằm võng phía trước nhà ngủ. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày Công an xã Định Th tiếp nhận thông tin người bị hại và đến nhà D xác minh thì phát hiện bị cáo L đang giữ con gà trống và cất giấu một điện thoại di động nhãn hiệu Realme nên Công an xã Định Th mời L đến trụ sở Công an xã làm việc. Tại đây, bị cáo L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Ngoài ra, L còn tự khai nhận, ngoài lần thực hiện tội phạm ngày 12/5/2022 L còn nhiều lần khác thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác trên địa bàn xã Định Th, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu, Cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 03/5/2022, bị cáo L đi bộ theo đường lộ thuộc ấp Lung Ch, xã Định Th, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu; đến nhà của ông Trịnh Văn H lấy cắp 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh và 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu vàng nhạt đang cắm sạc để trên tủ. Sau đó L về nhờ Ngô Chế Th bán 02 điện thoại di động trên, Thanh đem đến tiệm điện thoại di động của ông Trịnh Hồng Qu ở ấp Lung X, xã Định Th, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu bán được số tiền 620.000 đồng rồi đưa Linh hết. Đến ngày 14/5/2022 ông Hoàng biết được thông tin về người đã lấy trộm tài sản của mình nên đã đến Công an xã Định Th trình báo sự việc.
Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 06/5/2022 L điều khiển xe mô tô của Nguyễn Vũ Kh trên tuyến lộ từ xã An Phúc đi xã Định Th, trên đoạn đường đi thấy nhà ông Trần Út C thuộc ấp Lung Ch, xã Định Th, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu có nhiều vịt xiêm đang được nuôi nhốt trong chuồng. Bị cáo dừng xe lại đi đến chuồng bắt 01 con vịt xiêm nặng khoảng 03kg rồi điều khiển xe đi đến nhà của D chế biến để ăn. Đến ngày 16/5/2022 ông Trần Út C biết được thông tin về người đã lấy trộm tài sản của mình nên đến Công an xã Định Th trình báo sự việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 13/HĐ ngày 15/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ H kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, loại F822, màu xanh đen; kính cường lực dán trên màn hình có nhiều vết nứt; số IMEI 1: 868383041104853, số IMEI 2: 868383041104846; số Sê ri: 5LM7YTYL4THYJJLZ và 01 thẻ sim Vinaphone, còn giá trị 880.000 đồng; 01 con gà trống màu trắng- vàng, cân nặng 2,9kg có giá trị 348.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 19/HĐ ngày 18/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ H kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu PT. Mobile P10, màu vàng nhạt, màn hình cảm ứng, số IMEL: 359070067863233; số IMEL 2: 359070067863241, còn giá trị: 1.200.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, màu xanh, màn hình cảm ứng, còn giá trị: 3.200.000 đồng; 01 con vịt xiêm cân nặng 03kg, có giá trị: 240.000 đồng
Tại cáo trạng số: 53/CT – VKS – HS ngày 04/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H truy tố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa có quan điểm không thay đổi so với bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Kiểm sát viên trình bày do bị cáo tự thú, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng là bị cáo phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên phát biểu đề xuất đường lối giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản đã mất trộm và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng vụ án: Đã trả cho bị hại xong nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp tiền án phí 200.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
] Hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa hôm nay cùng những chứng cứ, tài liệu được thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo được thể hiện: Vì động cơ vụ lợi cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 03/5/2022 đến 12/5/2022, bị cáo Nguyễn Văn L là người có tiền án thuộc trường hợp tái phạm về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác: Cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào ngày 03/5/2022 bị cáo L lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh và 01 cái điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu vàng nhạt của ông Trịnh Văn H ở ấp Lung Ch, xã Định Th, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu; tài sản được định giá là 5.400.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào ngày 06/5/2022 bị cáo L lén lút chiếm đoạt 01 con vịt xiêm của ông Trần Út C ở ấp Lung Ch, xã Định Th, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu; tài sản được định giá là 240.000 đồng.
Lần thứ ba và thứ tư: Vào ngày 12/5/2022 bị cáo L lén lút chiếm đoạt 01 con gà trống của ông Trương Văn Đ ở ấp Chòi M, xã Định Th, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu, tài sản được định giá là 348.000 đồng. Sau đó tiếp tục đến nhà của chị Lê Thị L ở ấp Chòi M, xã Định Th, huyện Đ H , tỉnh Bạc Liêu, chiếm đoạt 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh, tài sản được định giá là 800.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng số 53/CT – VKS – HS ngày 04/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tư trị an tại địa phương mà còn gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân không yên tâm lao động sản xuất. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi và đủ khả năng lao động để kiếm sống, bản thân của bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã từng chấp hành án về tội trộm cắp tài sản hiện nay vẫn chưa được xóa án tích, lẽ ra phải biết ăn năn, sửa đổi nhưng bị cáo lại xem thường pháp luật tiếp tục lao vào con đường phạm tội, lấy trộm tài sản của người khác để thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Do đó cần có mức án tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, giáo dục cho bị cáo trở thành một công dân có ích cho xã hội.
Xét tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng tự nguyện khai báo với về hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình điều tra, truy tố cũng như xét xử, gia đình bị cáo có công với cách mạng được quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.
Đối với Ngô Chế T khi nhận bán giúp bị cáo L 02 điện thoại di động nhưng không biết tài sản do bị cáo L trộm cắp có được nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Đối với Trịnh Hồng Q khi mua 02 điện thoại di động không biết tài sản do bị can Linh trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Đối với Nguyễn Vũ Kh khi cho bị cáo L mượn xe mô tô không biết bị cáo Linh đi chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong nên không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Vật chứng vụ án: Đã giao trả lại xong cho bị hại nên không xem xét giải quyết.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Căn cứ điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2022.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Đ H ; - THA huyện Đ H ; - Công an huyện Đ H ; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu . | Thạch Thị Ngọc Bích |