vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 22/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo T P Đ tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo T P Đ 9 (chín) tháng tù Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TPĐ - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T P Đ tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày 22/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn An

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Hoàn cán bộ hưu trí huyện Cai

Lậy, tỉnh tiền Giang.

Ông Nguyễn Văn Hiền cán bộ hưu trí huyện Cai Lậy, tỉnh tiền Giang.

Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Hải Ân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải- Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 2 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 02/2023/QĐXXST-HS ngày 22/3/2023 đối với các cáo:

T P Đ: sinh ngày 01/01/1992, tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi đăng ký thường trú: ấp P N, xã L P, huyện L H, tỉnh V; Chỗ ở hiện nay: số ...., khu phố 1, phường T Đ, thị xã B C, tỉnh B. Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T V Th, sinh năm 1967 và bà B T H, sinh năm 1972; Anh chị em ruột có 2 người. Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Tiền sự: Không

Tiền án: 01 lần bản án số 07/2018/HS-ST ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lắp, tỉnh Đắk Nông xét xử về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 sủa đổi, bổ sung năm 2009, xử phạt 03 năm 06 tháng tù, chấp hành xong án phạt tù từ ngày 07/10/2021.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/9/2022 đến nay.

Người bị hại: N X B, sinh năm 1982 (vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: tổ 7, ấp Đ C, xã V P, huyện G T, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 01/8/2022, Đđiều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 61H – 010.10 kéo theo sơ mi rơ móc biển số 61R – 046.48 chở theo T N H, sinh năm 1999, địa chỉ: ấp T H, xã H T, thành phố C M, tỉnh Clưu thông trên đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận theo hướng Mỹ Thuận đi Trung Lương thì bị xe ô tô tải biển số 61LD – 064.02 do anh N X B, sinh năm 1982, địa chỉ: tổ 7, ấp Đ C, xã V P, huyện G T, tỉnh K điều khiển phía sau cùng chiều vượt lên, va quẹt vào phần đầu xe ô tô đầu kéo. Sau khi xảy ra va quẹt, anh N X B tiếp tục điều khiển xe ô tô tải 61LD – 064.02 về hướng Trung Lương nên T P Đ điều khiển xe ô tô đầu kéo đuổi theo để yêu cầu anh Be dừng lại thỏa thuận giải quyết. Khoảng 18 giờ 10 phút, khi đến đoạn thuộc ấp Bình Sơn, xã Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, khi đuổi kịp xe ô tô tải 61LD – 064.02, Đyêu cầu N X B giải quyết va quẹt, khi xuống xe anh N X B cầm theo đoạn tuýp sắt dài 100 cm, đường kính 3 cm, còn Đcầm đoạn tuýp sắt dài 95,5 cm (loại cây để sử dụng cảo hàng hóa), xảy ra cự cãi, đánh nhau, sau đó anh Be bỏ chạy, để lại xe ô tô biển số 61LD – 064.02, Đcầm đoạn cây tuýp sắt đập 01 cái vào kính chắn gió phía trước cabin, 01 cái vào kính chiếu hậu phía trước bên trái, 01 cái vào kính chắn gió cabin bên phải làm hư hỏng. Sau đó, Đ điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 61H – 010.10 rời khỏi hiện trường.

Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cai Lậy, xác định: kính chiếu hậu phía trước, bên trái trị giá 1.050.000 đồng; kính chắn gió phía trước cabin trị giá 8.400.000 đồng; kính chắn gió cabin bên phải trị giá 2.450.000 đồng. Tổng tài sản thiệt hại trị giá 11.900.000 đồng.

Vật chứng thu giữ, gồm: 01 xe ô tô tải biển số 61LD – 064.02 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe (bản sao y), giấy chứng nhận kiểm định xe; 01 ống tuýp sắt dài 95 cm, chu vi 11cm, một đầu có hàn cố định cờ lê mở miệng dài 10 cm, một đầu có hàn cố định cờ lê tròn dài 08 cm trên đầu cờ lê có một số vết sơn màu vàng – đen; 01 đoạn kim loại hình tròn sơn màu vàng – đen (loại ống tuýp sắt) dài 100 cm, đường kính 03 cm.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, T P Đ đã thỏa thuận bồi thường cho N X B số tiền 15.000.000 đồng. Anh Be không yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng 04/CT- VKSHCL ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố T P Đ về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã đưa ra những chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm H khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình Sự. Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T P Đ tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” xử phạt từ 9 tháng đến 12 tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho chủ sở hữu 01 xe ô tô tải biển số 61LD – 064.02 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe (bản sao y), giấy chứng nhận kiểm định xe.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: đối với 02 ống tiếp sắt bị cáo dùng để đập phá tài sản (xe ô tô) của anh N X B, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay sau khi nghe đại diện Viện Kiểm Sát Nhân Dân huyện Cai Lậy công bố cáo trạng truy tố. Bị cáo đã nhận tội, công nhận hành vi của bị cáo được nêu trong bản cáo trạng là hoàn toàn đúng. Bị cáo không có ý kiến gì.

Bị cáo T P Đ có hành vi cầm đoạn cây tuýp sắt đập phá làm hư hỏng. Gây thiệt hại về tài sản của anh N X B, bị cáo nhận thức được hành vi đập phá tài sản (xe ô tô tải) của người khác là xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ nhưng vì có mâu thuẫn trong việc va quẹt xe và cự cãi, đánh nhau. Làm hư hỏng tài sản của của anh N X B. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 11.900.000 đồng Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy truy tố bị cáo phạm tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Một phần cũng do lỗi của bị hại là anh N X B vì sau khi sảy ra va quẹt không đừng lại giải quyết mà tiếp tục duy chuyển.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T P Đ có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy nhân thân của bị cáo đã có một tiền án về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999 sủa đổi, bổ sung năm 2009, xử phạt 03 năm 06 tháng tù, chấp hành xong án phạt tù từ ngày 07/10/2021. Chưa được xóa án tích đã tiếp tục phạm tội.

Trách nhiệm dân sự: T P Đ đã thỏa thuận bồi thường cho N X B số tiền 15.000.000 đồng. Anh Be không yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ cho bị cáo. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 ống tuýp sắt dài 95 cm, chu vi 11cm, một đầu có hàn cố định cờ lê mở miệng dài 10 cm, một đầu có hàn cố định cờ lê tròn dài 08 cm trên đầu cờ lê có một số vết sơn màu vàng – đen; 01 đoạn kim loại hình tròn sơn màu vàng – đen (loại ống tuýp sắt) dài 100 cm, đường kính 03 cm.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng là có cơ sở nên chấp nhận.

Bị cáo T P Đ phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều

136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Xử:

1. Tuyên bố bị cáo T P Đ tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 178 điểm, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo T P Đ 9 (chín) tháng tù Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 ống tuýp sắt dài 95 cm, chu vi 11cm, một đầu có hàn cố định cờ lê mở miệng dài 10 cm, một đầu có hàn cố định cờ lê tròn dài 08 cm trên đầu cờ lê có một số vết sơn màu vàng – đen; 01 đoạn kim loại hình tròn sơn màu vàng – đen (loại ống tuýp sắt) dài 100 cm, đường kính 03 cm. Là phương tiện phạm tội của bị cáo.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo T P Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêngngười bị hại vắng mặt thì thờihạn kháng cáo là15ngày kể từ ngày bản án được tống Đhoặc niêm yết hợp lệđể yêu cầu Tòa án nhândântỉnh Tiền Giangxétxử theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ