vanban.org

Bản án 07/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trịnh Minh Tr, Lâm Văn V phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Minh Tr 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2022. Xử phạt bị cáo Lâm Văn V 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Minh Tr và Lâm Văn - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trịnh Minh Tr, Lâm Văn V phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07/2023/HS-ST
Ngày:05-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Nguyên

2/ Bà Trần Thị Nga

Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân

huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hòa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 276/2022/TLST - HS ngày 09/12/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 282/2022/QĐXXST – HS ngày 15/12/2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trịnh Minh Tr; giới tính: Nam; sinh năm 1996, tại Thành phố H; hộ khẩu thường trú: 11/5 ấp B, xã Đ, huyện M, Thành phố H; chỗ ở: Nhà không số thuộc tổ K, ấp B, xã Đ, huyện M, Thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Thợ sơn; họ tên cha: Trịnh Minh T (chết); họ tên mẹ: Nguyễn Thị Th; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/8/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Án số 176/2014/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2016, theo Công văn số 165/TGXL-HS ngày 18/8/2022 của Trại giam Xuân Lộc (Cục C10). Đóng án phí ngày 08/12/2014, bồi thường dân sự ngày 20/11/2014.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2022 (có mặt).

2. Họ và tên: Lâm Văn V; giới tính: Nam; sinh năm 1993, tại tỉnh V; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh V; chỗ ở: N tổ 9, ấp M, xã T, huyện M, Thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Thợ hồ; họ tên cha: Lâm Văn A (chết); họ tên mẹ: Huỳnh Ngọc T; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 01/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, theo Quyết định số 283/2020/QĐ-TA, chấp hành xong Quyết định ngày 13/9/2021, theo Giấy chứng nhận số 3281/GCN-CS3 của Cơ sở cai nghiện ma túy số 3.

Nhân thân: Ngày 01/7/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, theo Quyết định số 152/2016/QĐ-TA, chấp hành xong Quyết định ngày 14/10/2017, theo Giấy chứng nhận số 79/GCN-CS1 của Cơ sở cai nghiện ma túy số 1.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2022 (có mặt).

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm: 2002 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: KN, xã B, huyện H, Thành phố H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Lê Thị G, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Nơi cư trú: H, xã T, huyện H, tỉnh A.

2. Ông Võ Văn R, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện H, tỉnh A.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Minh Tr và Lâm Văn V có mối quan hệ bạn bè. Vào khoảng 19 giờ ngày 26/5/2022,V điều khiển xe mô tô biển số 62P2-116.38 đến nhà Tr để rủ đi nhậu tại nhà của bạnV ở khu vực xã B, huyện H. Sau đó,V điều khiển xe mô tô chở Tr ngồi phía sau lưu thông qua nhiều tuyến đường. Khi cả hai đến đoạn đường nội bộ thuộc tổ 7, ấp 4A, xã B, huyện H thì V phát hiện phía trước cùng chiều em Trần Hà L (sinh năm: 2008) điều khiển xe mô tô chở phía sau bà Nguyễn Thị Bích H, trên tay trái bà H đang cầm điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A9 2020. Lúc này,V nảy sinh ý định cướp giật điện thoại di động của bà H nên rủ Tr cùng thực hiện, Tr đồng ý. Khi em L điều khiển xe mô tô đến trước tiệm tạp hoá tại địa chỉ: NK, xã B, huyện H dừng xe lại để mua đồ, bà H lấy điện thoại ra nghe vì có người gọi đến thìV điều khiển xe áp sát bên trái bà H để Tr dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại Oppo A9 2020 rồi V liền tăng ga tẩu thoát. Bà H truy hô “Cướp cướp” cùng người dân xung quanh truy đuổi theo.V điều khiển xe chạy đến địa chỉ D20/7, tổ 7, ấp A, xã B, huyện H thì bị ngã xe. Cả hai bỏ lại xe mô tô biển số 62P2-116.38 chạy trốn, một lúc sau không thấy ai truy đuổi nữa nên V quay lại để lấy xe thì bị bà H cùng với người dân xung quanh giữ V lại. Sau đó, người dân đi xung quanh tìm thì phát hiện Tr đang đi bộ nên bắt giữ cùng tang vật là điện thoại Oppo A9 2020 trong túi quần trước bên phải của Tr. Bà H cùng người dân đưa cả hai cùng tang vật đến Công an xã Vĩnh Lộc B tiếp nhận vụ việc lập hồ sơ ban đầu, chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thụ lý theo thẩm quyền. Qua kiểm tra, Tr dương tính với ma tuý.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thì Trịnh Minh Tr và Lâm Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như nội dung nêu trên, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 2903/KL-HĐĐGTS ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh xác định 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020 trị giá 2.400.000 đồng.

Về vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

- 01 USB ghi nhận diễn biến vụ “Cướp giật tài sản”, vật chứng lưu giữ cùng hồ sơ vụ án.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã giao trả cho bà Nguyễn Thị Bích H vào ngày 26/9/2022.

- Thu giữ của Trịnh Minh Tr: 01 áo sơ mi dài tay và 01 quần ngắn màu đỏ.

- Thu giữ của Lâm Văn V gồm: 01 áo thun ngắn tay màu xám và 01 quần Jean màu xám; 01 biển số 62P2-116.38. Qua xác minh xe mô tô biển số 62P2-116.38 do bà Lê Thị G đứng tên chủ sở hữu, bà G khai xe mô tô có biển số 62P2-116.38 bị mất khoảng hơn ba tháng, tuy nhiên bà G không trình báo cơ quan Công an.

Đối với xe mô tô có số khung: RLHJA3919KY, số máy JA39E-1051279 qua xác minh có biển số 62P1-977.26 do ông Võ Văn R đứng tên chủ sở hữu. Ông R khai xe trên bị mất khoảng cuối năm 2020 ông R không trình báo cơ quan Công an.Vẹn khai nhận xe trên do người bạn tên L (không rõ lại lịch) choV. Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã giao trả xe mô tô có số khung: RLHJA3919KY, số máy JA39E-1051279 cho ông Riết vào ngày 14/10/2022.

Tại bản Cáo trạng số 01/CT - VKS ngày 01 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Trịnh Minh Tr, Lâm Văn V về tội "Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa các bị cáo Trịnh Minh Tr, Lâm Văn V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố các bị cáo. Các bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:

Xử phạt bị cáo Trịnh Minh Tr từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lâm Văn V từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử lý vật chứng theo quy định.

Bị hại bà Nguyễn Thị Bích H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nội dung đơn thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì về dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Võ Văn R vắng mặt tại tòa, lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra thể hiện ông đã nhận lại xe mô tô biển số 59M1-893.31, không yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa các bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo Trịnh Minh Tr, Lâm Văn V tại tòa hoàn toàn phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL:173 - 185, 212 - 226); phù hợp với lời khai của bị hại bà Nguyễn Thị Bích H (BL:137 – 149) phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như biên bản lấy lời khai, Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; thu giữ vật chứng, kết quả định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường…, cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 26/5/2022, các bị cáo Trịnh Minh Tr, Lâm Văn V đã có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020 có giá trị 2.400.000 đồng của bà Nguyễn Thị Bích H (Theo kết quả định giá tài sản số 2903/KL-HĐĐGTS ngày 13 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh) tại trước nhà số D20/7, tổ 7, ấp 4A, xã B, huyện H, Thành phố H thì bị quần chúng nhân dân truy đuổi bắt giữ.

Với những tình tiết được chứng minh trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Trịnh Minh Tr, Lâm Văn V đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố các bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.

[3] Tội phạm các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà không chịu bỏ công sức ra lao động chân chính. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, biếng lười lao động, muốn có tiền tiêu xài, mua ma túy để sử dụng nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Do đó, khi lượng hình cần buộc các bị cáo phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Đây là vụ án có đồng phạm, trong đó bị cáoV là người chủ mưu, rủ rê, khởi xướng dùng xe của mình làm phương tiện phạm tội; bị cáo Tr là đồng phạm giúp sức tích cực, khi đượcV rủ đi cướp giật là đồng ý ngay, bị cáo Tr là người trực tiếp thực hiện hành vi giật điện thoại. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử căn cứ vào vai trò, hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo mà có mức án ngang bằng nhau.

[5] Các bị cáo dùng xe mô tô làm phương tiện phạm tội là thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm đây là tình tiết định khung hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử các bị cáo.

[6] Về nhân thân của các bị cáo:

Đối với bị cáo Tr có nhân thân xấu: Bị cáo đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”; cụ thể: Ngày 15/8/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Án số 176/2014/HSST - đã xóa án tích).

Đối với bị cáoV có 01 tiền sự và nhân thân xấu:

Về tiền sự: Ngày 01/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, theo Quyết định số 283/QĐ-TA, chấp hành xong Quyết định ngày 13/9/2021, theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính thì tiền sự của bị cáo chưa được xóa.

Nhân thân: Ngày 01/7/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, theo Quyết định số 152/QĐ-TA, chấp hành xong Quyết định ngày 14/10/2017, theo Giấy chứng nhận số 79/CN-CS2 của Cơ sở cai nghiện ma túy số 1.

Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử lưu ý đến nhân thân của các bị cáo mà có mức án nghiêm để răn đe, giáo dục.

[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc đến các tình tiết các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản kịp thời thu hồi giao trả cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại các điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[8] Xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A9 2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã giao trả cho chị Nguyễn Thị Bích H vào ngày 26/9/2022, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với xe mô tô có số khung: RLHJA3919KY, số máy JA39E-1051279 qua xác minh có biển số 62P1-977.26 do ông Võ Văn R đứng tên chủ sở hữu. Ông R khai xe trên bị mất khoảng cuối năm 2020 ông R không trình báo cơ quan Công an. Bị cáoV khai nhận xe trên do người bạn tên L (không rõ lại lịch) cho bị cáo. Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã giao trả xe mô tô trên cho ông R vào ngày 14/10/2022, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Đối với 01 áo sơ mi dài tay, 01 quần ngắn màu đỏ, 01 áo thun ngắn tay màu xám và 01 quần Jean màu xám, là tài sản của các bị cáo, các bị cáo từ chối nhận lại, xét tài sản này không còn giá trị sử dụng sẽ tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 biển số 62P2-116.38. Qua xác minh xe mô tô biển số 62P2-116.38 do bà Lê Thị G đứng tên chủ sở hữu, bà G khai xe mô tô có biển số trên bị mất khoảng hơn ba tháng, bà G không trình báo cơ quan Công an. Qua giám định thì không có cơ xác định biển số xe trên là thật hay giả, do đó Hội đồng xét xử tiếp tục giao biển số xe trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh tiếp tục tạm giữ để xử lý theo thẩm quyền.

Đối với 01 USB chứa dữ liệu liên quan đến vụ án, tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án.

[9] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì về dân sự nên không đặt ra giải quyết.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm h, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trịnh Minh Tr.

Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm h, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lâm Văn V.

Căn cứ điểm c Khoản 2, điểm b Khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 299, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố các bị cáo Trịnh Minh Tr, Lâm Văn V phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trịnh Minh Tr 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2022.

Xử phạt bị cáo Lâm Văn V 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2022.

Về vật chứng:

Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh tạm giữ 01 biển số xe mô tô 62P2-116.38 để tiếp tục tạm giữ xử lý theo thẩm quyền.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay, 01 quần ngắn màu đỏ, 01 áo thun ngắn tay màu xám và 01 quần Jeans màu xám.

(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh được lập vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 09/12/2022, riêng USB đang lưu hồ sơ vụ án).

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu liên quan đến vụ án.

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ