vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Văn Thị H được ly hôn với ông Trần Thanh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2008, quyền số 01/2007, do Uỷ ban nhân dân thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình cấp vào ngày 18/01/2008).

Về con chung. Bà Văn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Thanh P, sinh ngày 13/08/2008 và Trần Thị Thanh H, sinh ngày 21/06/2012. Ghi nhận sự tự nguyên của bà Văn Thị H không yêu cầu ông Trần Thanh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, bà Văn Thị H và ông Trần Tha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "văn Thị Hà - Trần Đình Thọ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Văn Thị H được ly hôn với ông Trần Thanh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2008, quyền số 01/2007, do Uỷ ban nhân dân thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình cấp vào ngày 18/01/2008).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày 12- 01-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Phạm Tú Nhi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 589/2022/TB - TLVA ngày 28 tháng 11 năm 2022 về việc Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 255/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Văn Thị H, sinh năm 1982; thường trú: Phố Năm Dân, thị trấn Phát D, huyện K, tỉnh Ninh Bình; tạm trú: 151/16/1 đường Lê Văn T, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1978; thường trú: Số 15/41 khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; tạm trú: 151/16/1 đường Lê Văn T, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 3 năm 2022, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Văn Thị H và ông Trần Thanh T tự nguyên yêu nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình ngày 18 tháng 01 năm 2008.

1

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau. Mặc dù cả hai vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng không có kết quả. Hai vợ chồng sống ly thân đã 02 năm nay, mặc dù còn ở chung nhà nhưng không ai quan tâm đến ai. Đầu năm 2022 bà cũng đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa, qua hòa giải viên hòa giải bà đã rút đơn về để cho ông T một cơ hội, để gia đình đoàn tụ nhưng ông T vẫn không thay đổi.

Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Văn Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thanh T.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Trần Thanh , sinh ngày 13/08/2008 và Trần Thị Thanh H sinh ngày 21/6/2012. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu trực được tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu ông Trần Thanh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Thanh T lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Văn Thị H về thời gian đăng ký kết hôn và con chung. Ông T xác định, mâu thuẫn gia đình phát sinh chủ yếu từ việc vợ, mẹ chồng và các em chồng không hòa hợp với nhau. Mỗi lần giữa mẹ ông, các em của ông và vợ có xích mích với nhau ông cũng đã cố gắng để hòa giải, dung hòa giữa hai bên nhưng không có kết quả.

Mặc dù vợ chồng không có hòa thuận nhưng ông vẫn rất yêu thương vợ con nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Thanh P, sinh ngày 13/08/2008 và Trần Thị Thanh H, sinh ngày 21/6/2012. Ông không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng trường hợp Tòa án cho vợ chồng ông ly hôn thì ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Thanh P, sinh ngày 13/08/2008 và giao cháu Trần Thị Thanh H, sinh ngày 21/6/2012 cho bà Văn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải thực hiện nghãi vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ngày 19/12/2022 Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẩn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa bà Văn Thị H và ông Trần Thanh T tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường Tân Đông Hiệp và được cung cấp thông tin như sau: Bà Văn Thị H không phải là thành viên hội phụ nữ phường. Trước khi khởi kiện ly hôn tại Toà án, bà H cũng không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở; Hội Liên hiệp phụ nữ phường Tân Đông Hiệp cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng như người dân phản ảnh. Vì vậy, Hội liên hiệp phụ nữ phường Tân Đông Hiệp không rõ nguyên nhân mâu thuẫn và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa bà Văn Thị H và ông Trần Thanh T. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Ông Trần Thanh T và bà Văn Thị H tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình theo giấy chứng nhận kết hôn số 07/2008, quyển số:01/2007 ngày 18/01/2008. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Thanh T và bà Văn Thị H là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống chung của vợ chồng không được hòa thuận nên đầu năm 2022 bà H đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An giải quyết ly hôn, qua Hòa giải viên hòa giải, để cho ông T có cơ hội thay đổi và hàn gắn tình cảm giữa hai vợ chồng bà H đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, do tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, mặc dù vẫn sống chung nhưng cả hai không còn quan tâm đến nhau, không thương yêu, quý trọng, chăm sóc nhau nên bà H tiếp tục nộp đơn yêu cầu xin ly hôn. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà Văn Thị H yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà Văn Thị H.

Về con chung: Ông Trần Thanh T có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Thanh P, Tuy nhiên, Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/12/2022 cháu Phong có nguyện vọng được ở với mẹ, Bà Văn Thị H cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phong. Xét thấy, việc giao con cho cha hay mẹ nuôi dưỡng đều phù hợp nhưng cần thiết phải xem xét đến nguyện vọng của cháu. Cháu Phong cũng xác định trong cuộc sống hàng ngày thì bà Văn Thị H là người chăm sóc, lo toan cho cháu nên có nguyện vọng được sống chung với mẹ và em. Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Văn Thị H.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Văn Thị H về việc không yêu cầu ông Trần Thanh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7) Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Bà Văn Thị H phải chịu án phi theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Văn Thị H được ly hôn với ông Trần Thanh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2008, quyền số 01/2007, do Uỷ ban nhân dân thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình cấp vào ngày 18/01/2008).

2. Về con chung. Bà Văn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Thanh P, sinh ngày 13/08/2008 và Trần Thị Thanh H, sinh ngày 21/06/2012. Ghi nhận sự tự nguyên của bà Văn Thị H không yêu cầu ông Trần Thanh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, bà Văn Thị H và ông Trần Thanh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Văn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phi đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000890 ngày 25/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ