vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị A được ly hôn với anh Bt.

Về con chung: Giao cháu C, sinh ngày 11/11/2013 và D, sinh ngày 08/6/2018 cho chị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A chưa có yêu cầu. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị A được ly hôn với anh Bt.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/3/2023
V/v tranh chấp ”ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Tám

Bà Đặng Thị Tiềm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 17 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự.

Nguyên đơn: Chị A, sinh năm 1991;

Địa chỉ: số 215, ấp A1, xã A2, thị xã A3, tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn: Anh B, sinh năm 1984;

Địa chỉ: ấp B1, xã B2, thị xã B3, tỉnh Tiền Giang.

(Chị A có đơn xin vắng mặt, anh B vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 26/9/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh B do quen biết và được gia đình hai bên đồng ý, chị và anh B tổ chức đám cưới vào năm 2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã A2, huyện A3, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 26/02/2014. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, anh B thường xuyên cờ bạc gây ra nợ nần, không có trách nhiệm với vợ con. Chị và anh B đã ly thân, không còn sống chung và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ cuối tháng 3/2022 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh B.

Về con chung: có 02 con chung tên C, sinh ngày 11/11/2013 và D, sinh ngày 08/6/2018. Khi ly hôn chị A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Hiện hai con chung đang ở với chị. Hiện chị đang có tiệm làm tóc và bán mỹ phẩm trên mạng, thu nhập một tháng khoảng 10.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh thống nhất với lời trình bày của chị A về thời gian kết hôn. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 4/2022, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do anh không làm ra tiền, anh không có cờ bạc gây ra nợ nần như chị A trình bày, ngoài ra thì không còn nguyên nhân nào khác. Từ khoảng tháng 4/2022 cho đến nay thì anh đi về để làm thủ tục bán đất ở quê nên anh thường đi đi về về chứ không ở cố định một nơi. Trước đây thì anh và chị A sống chung với cha mẹ của chị A. Nay chị A yêu cầu ly hôn anh không đồng ý vì anh muốn vợ chồng hàn gắn lại để cùng nhau lo cho hai con chung. Nợ nần thì hiện anh cũng đang thiếu nợ, anh mượn nợ để làm ăn, tiêu xài cá nhân và cũng để lo cho gia đình.

Về con chung: có 02 con chung như chị A trình bày là đúng. Khi ly hôn anh đồng ý để chị A tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên C, anh yêu cầu nuôi dưỡng con chung tên D, anh không cấp dưỡng nuôi con và cũng không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa bị đơn anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh B vắng mặt không lý do và ngoài những lời trình bày tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 15/12/2022 thì anh B cũng không có nộp thêm tài liệu chứng cứ hay trình bày ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn chị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh B vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa là phù hợp.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, bị đơn anh B có hộ khẩu thường trú tại ấp B1, xã B2, thị xã B3, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Về quan hệ hôn nhân: chị A và anh B về chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã A2, huyện A3, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 26/02/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, anh B thường xuyên cờ bạc gây ra nợ nần, không có trách nhiệm với vợ con. Chị và anh B đã ly thân, không còn sống chung và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ cuối tháng 3/2022 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy: sau khi chị A và anh B xác lập quan hệ vợ chồng thì vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Từ lúc ly thân khoảng tháng 3/2022 cho đến nay thì chị A và anh B không còn liên lạc với nhau, không quan tâm gì nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 15/12/2022 anh Út trình bày thống nhất với chị A về thời gian kết hôn. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 4/2022, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do anh không làm ra tiền. Nay chị A yêu cầu ly hôn anh không đồng ý ly hôn. Xét, từ khi chị A nộp đơn xin ly hôn với anh B cho đến nay thì chị A, anh B cũng không hòa giải hàn gắn được, quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh B vẫn không được cải thiện. Hiện nay thì chị A và anh B đã sống ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng, mạnh ai nấy sống không quan tâm gì nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án chị B trình bày không còn tình cảm gì đối với anh A. Tại buổi hòa giải ngày 15/12/2022 anh B không đồng ý ly hôn, nhưng không có biện pháp để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ. Mặc khác, các phiên hòa giải ngày 27/12/2022, ngày 14/02/2023 thì anh B không đến và cũng không có mặt tại phiên tòa thể hiện anh B không có thiện chí và biện pháp để vợ chồng hàn gắn tình cảm đoàn tụ lại. Quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã động viên phân tích, hòa giải nhưng chị A khẳng định không còn tình cảm gì với anh B nữa, không muốn vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ lại mà vẫn kiên quyết ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A.

Về con chung: Có 02 con chung tên C, sinh ngày 11/11/2013 và D, sinh ngày 08/6/2018. Khi ly hôn chị A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con, anh B yêu cầu nuôi dưỡng con chung tên C, anh không cấp dưỡng nuôi cháu D và cũng không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi cháu Phúc. Xét, từ khi chị A và anh B sống ly thân đến nay 02 con chung do chị A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đã ổn định cuộc sống và đảm bảo tốt về mọi mặt. Đồng thời, theo lời khai của cháu C có nguyện vọng được sống với chị A khi chị A và anh B ly hôn. Do đó, để ổn định cuộc sống cho cháu C, cháu D, nên giao cháu C, D cho chị A chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: chị A và anh B thống nhất không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: chị A và anh B thống nhất không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc chị A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị A được ly hôn với anh Bt.

2. Về con chung: Giao cháu C, sinh ngày 11/11/2013 và D, sinh ngày 08/6/2018 cho chị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A chưa có yêu cầu.

Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị A đã nộp theo biên lai thu số 0018256 ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên xem như chị A đã nộp xong tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ