vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 29/03/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Hồng C với anh Hsu Hung W.

Xử cho chị Lê Hồng C, sinh năm 1992 được ly hôn với anh Hsu Hung W, sinh năm 1978. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Lê Hồng C xin ly hôn với anh Hsu Hung W"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Hồng C với anh Hsu Hung W.
  • Căn cứ chính? Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 3 - 2023
V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Liêu Bích Nga

Bà Trịnh Tiểu Nhi

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Hồng C, sinh năm 1992, (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp Q, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Anh Hsu Hung W, sinh năm 1978, (vắng mặt);

Địa chỉ: Lộ D, Khóm N, phường M, khu B, thành phố T, Đài Loan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Lê Hồng C trình bày: Chị C và anh Hsu Hung W tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/11/2018. Sau khi kết hôn chị và anh Hsu Hung W chỉ chung sống với nhau được khoảng 03 ngày tại Bạc Liêu, sau đó anh Hsu Hung W về Đài Loan. Từ khi về Đài Loan, anh Hsu Hung W sang Việt Nam được 03 lần để làm thủ tục bảo lãnh chị sang Đài Loan đoàn tụ, nhưng do chị phỏng vấn không đạt nên từ tháng 2/2019 đến nay, anh Hsu Hung W không sang Việt Nam thăm chị nữa và vợ chồng cũng không còn liên lạc với nhau, không thể đoàn tụ, không còn sự quan tâm đến nhau, nên chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Hsu Hung W.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị C xác định vợ chồng không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn anh Hsu Hung W: Khi thụ lý vụ án, Tòa án nhận được Đơn đồng ý ly hôn và Đơn xin xét xử vắng mặt cùng đề ngày 30/11/2019 của anh Hsu Hung W, nội dung: Anh Hsu Hung W đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị C. Về con chung, tài sản chung và nợ chung anh xác định vợ chồng không có con chung, tài sản chung và nợ chung. Do bận công việc tại Đài Loan, không thể sắp xếp được thời gian về Việt Nam được nên anh Hsu Hung W yêu cầu được vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:

+ Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Quá trình giải quyết Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đúng theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

+ Về nội dung vụ án: Chị Lê Hồng C và anh Hsu Hung W xây dựng hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu và được cấp giấy chứng nhận kết ngày 09/11/2018. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo pháp luật Việt Nam. Sau khi kết hôn anh chị có chung sống với nhau trong thời gian ngắn, anh Hsu Hung W có làm thủ tục bảo lãnh chị C sang Đài Loan nhưng thủ tục bảo lãnh không được, mỗi người ở một nơi nên tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị C yêu cầu ly hôn, nên giải quyết cho anh chị ly hôn là có căn cứ, phù hợp pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Hồng C, xử cho chị C được ly hôn với anh Hsu Hung W. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Hsu Hung W là người nước ngoài và đang cư trú tại địa chỉ: Lộ D, Khóm N, phường M, khu B, thành phố T, Đài Loan, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khi thụ lý vụ án, chị Lê Hồng C nộp đầy đủ các văn bản ghi nhận ý kiến của anh Hsu Hung W được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật, nên Tòa án không thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp để tống đạt văn bản tố tụng cho anh Hsu Hung W theo quy định của pháp luật. Do anh Hsu Hung W có đơn xin vắng mặt, nên căn cứ điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Hsu Hung W.

[1.3] Đối với nguyên đơn chị Lê Hồng C, ngày 21/02/2023 chị có đơn xin xét xử vắng mặt, xét thấy, đơn xin xét xử vắng mặt của chị C là phù hợp với quy định pháp luật, nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với chị Lê Hồng C. Do vụ án vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo đúng quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Hồng C và anh Hsu Hung W, chị C xác định chị và anh Hsu Hung W xây dựng hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam, căn cứ giấy chứng nhận kết hôn do Ủy nhân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 09/11/2018 đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị Lê Hồng C và anh Hsu Hung W là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật Việt Nam bảo vệ.

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai của chị Lê Hồng C có cơ sở xác định, sau khi kết hôn chị C và anh Hsu Hung W chỉ chung sống với nhau trong một thời gian ngắn thì anh Hsu Hung W về Đài Loan và từ tháng 2 năm 2019 đến nay anh Hsu Hung W không sang Việt Nam nữa. Nay chị C xác định hôn nhân của chị và anh Hsu Hung W không tiếp tục chung sống với nhau được nữa, vì chị ở Việt Nam không sang Đài Loan được, còn anh Hsu Hung W không sang Việt Nam nữa, tình cảm vợ chồng không còn. Hội đồng xét xử xét thấy, theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, theo đó giữa chị Lê Hồng C và anh Hsu Hung W đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, hiện nay chị C và anh Hsu Hung W không còn liên lạc với nhau, làm cho hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thực hiện được do mỗi người ở một nơi và không thể đoàn tụ. Do đó, có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Hồng C, cho chị Lê Hồng C được ly hôn với anh Hsu Hung W.

Về quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị C và anh Hsu Hung W thống nhất xác định vợ chồng không có con chung, tài sản chung và nợ chung, khi ly hôn chị C và anh W không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lê Hồng C, xử cho chị Lê Hồng C được ly hôn anh Hsu Hung W; về con chung, tài sản chung, nợ chung không có không xem xét giải quyết. Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí, lệ phí Tòa án:

Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27; Điều 44 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Lê Hồng C phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Lê Hồng C không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273; Điều 280; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 474; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 122, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27; Điều 44 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Hồng C với anh Hsu Hung W.

Xử cho chị Lê Hồng C, sinh năm 1992 được ly hôn với anh Hsu Hung W, sinh năm 1978.

2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

3. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Lê Hồng C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chị Lê Hồng C đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), theo Biên lai thu số 0000391 ngày 21/02/2023, tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

Quyền kháng cáo: Chị Lê Hồng C có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết; anh Hsu Hung W có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ