- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngọc - Ngân"
- Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa anh Cao Văn Ng và chị Đoàn Thị Ng1.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST Ngày 24-4-2023 V/v ly hôn giữa anh Ng – chị Ng1 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thi Gấm.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đình Mạnh.
2. Bà Trần Thị Định.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2023/TLST - HNGĐ ngày 04-01-2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04-4-2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Cao Văn Ng, sinh năm 1980.
2. Bị đơn: Chị Đoàn Thị Ng1, sinh năm 1983.
Đều cư trú tại: Đội 2, thôn Đắc Lực, xã Liên Bảo, huyện V, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Anh Ng vắng mặt có lý do; chị Ng1 vắng mặt lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 30-12-2022, bản tự khai ngày 10-01-2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Cao Văn Ng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Ng1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 13-4-2005 tại Uỷ ban nhân dân xã Liên Bảo, huyện V, tỉnh Nam Định. Sau ngày kết hôn anh chị sống hoà thuận được khoảng 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh Ng và chị Ng1 là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, trong cuộc sống chung thường xảy ra bất đồng quan điểm. Mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Từ ngày 06-6-2022 đến nay anh và chị Ng1 sống ly thân. Từ thời điểm vợ chồng sống ly thân, anh chị không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau nữa. Anh Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này nữa. Vì vậy, anh Ng xin được ly hôn với chị Ng1.
Về con chung: Anh và chị Ng1 có 01 con chung là cháu Cao Đại Ph, sinh ngày 12-02-2006, hiện nay cháu Ph đang ở với anh Ng. Ly hôn, anh Ng có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu chị Ng1 cấp dưỡng nuôi con cùng anh. Anh Ng có sức khoẻ, có công việc ổn định nên đủ điều kiện để nuôi con.
- Về tài sản chung, công nợ và các nội dung khác liên quan: Anh Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình tố tụng, Toà án đã triệu tập chị Ng1 đến làm việc, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, tuy nhiên chị Ng1 không đến Toà án làm việc. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải được.
* Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 23-3-2023, chính quyền địa phương cung cấp như sau: Anh Cao Văn Ng và chị Đoàn Thị Ng1 tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 13-4-2005 tại Uỷ ban nhân dân xã Liên Bảo, huyện V; Chị Ng1 hiện đang cư trú tại đội 2, thôn Đắc Lực, xã Liên Bảo, huyện V, tỉnh Nam Định.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.
- Về yêu cầu khởi kiện của đương sự: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Cao Văn Ng và chị Đoàn Thị Ng1.
+ Về con chung: Giao cháu Cao Đại Ph, sinh ngày 12-02-2006 cho anh Cao Văn Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Ph trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được. Chị Ng1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Ng.
+ Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và những vấn đề khác có liên quan: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
+ Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Cao Văn Ng phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn chị Đoàn Thị Ng1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại đội 2, thôn Đắc Lực, xã Liên Bảo, huyện V, tỉnh Nam Định, do đó Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định đã thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: anh Cao Văn Ng và chi Đoàn Thị Ng1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Liên Bảo, huyện V, tỉnh Nam Định ngày 13-4-2005, như vậy hôn nhân của anh Ng và chị Ng1 là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Sau kết hôn theo anh Ng là vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên dẫn đến hạnh phúc gia đình mất dần; anh chị đã sống ly thân từ tháng 6-2012 đến nay. Như vậy, trong thời gian vợ chồng chung sống anh Ng và chị Ng1 không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không gìn giữ, bảo vệ hạnh phúc gia đình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, anh chị đã có thời gian sống ly thân dài. Như vậy, việc này trái với quy định tại Điều 19, Điều 21 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xác định tình trạng hôn nhân của anh Ng và chị Ng1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Ng, xử cho anh Ng được ly hôn với chị Ng1 là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Con chung của anh Ng và chị Ng1 là cháu Cao Đại Ph, sinh ngày 12-02-2006, từ thời điểm anh chị sống ly thân thì cháu Ph được anh Ng nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, anh Ng có sức khỏe, có công việc và thu nhập ổn định; mặt khác cháu Ph có nguyện vọng được ở cùng bố. Vì vậy, giao cháu Phòng cho anh Ng tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế của đương sự và quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản, công nợ và các nội dung khác liên quan: Anh Ngoc không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Cao Văn Ng phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
1. Xử ly hôn giữa anh Cao Văn Ng và chị Đoàn Thị Ng1.
2. Về con chung: Giao cháu Cao Đại Ph, sinh ngày 12-02-2006 cho anh Cao Văn Ng trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Ph trưởng thành, có khả năng lao động tự lâp được.
Chị Đoàn Thị Ng1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Cao Văn Ng.
Chị Đoàn Thị Ng1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng chị Ng1 không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Cao Văn Ng.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Cao Văn Ng phải nộp 300.000 đồng. Anh Ng đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0001585 ngày 04-01-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V được đối trừ (Anh Ng đã nộp xong ).
4. Quyền kháng cáo: Anh Cao Văn Ng và chị Đoàn Thị Ng1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận - Các đương sự; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - UBND xã Liên Bảo; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Gấm |