vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho chị Phàng Thị H được ly hôn anh Võ Văn D.

Về con chung: Giao cháu Võ Thị Tuyết L, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2020 cho chị Phàng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Võ Thị Tuyết L thành niên, (đủ 18 tuổi), có khả năng lao động. Về cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với Anh Võ Văn D d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Phàng Thị H và anh Võ Văn D"
  • Tòa quyết gì? Xử cho chị Phàng Thị H được ly hôn anh Võ Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-6-2023.
V/v: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Công Ó.

2. Bà Đinh Thị Minh Thuý.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2023//TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phàng Thị H, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Bản SV, xã KB, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Võ Văn D, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Ấp PM, xã VL, huyện VK, tỉnh Bạc Liêu.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 07/4/2023 và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phàng Thị H trình bày như sau:

Chị Phàng Thị H và anh Võ Văn D kết hôn với nhau ngày 31 tháng 8 năm 2020 tại Uỷ ban nhân dân xã VL, huyện VK, tỉnh Bạc Liêu. Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không thuộc các trường hợp cấm kết hôn. Sau ngày cưới vợ, chồng thuê nhà trọ ra ở riêng tại tỉnh Bình Dương, cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm sống, từ đó phát sinh nhiều mâu thuẫn trong gia đình. Chị Phàng Thị H đã về sống tại bản SV, xã KB, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không thành. Hai anh, chị đã sống ly thân từ ngày 25 tháng 5 năm 2022 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn chị Phàng Thị H làm đơn đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Văn D.

Về con chung: Hai anh chị có 01 con chung là cháu Võ Thị Tuyết L, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2020. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Võ Thị Tuyết L đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi), có khả năng lao động.

Về cấp dưỡng: Chị Phàng Thị H không yêu cầu anh Võ Văn D.cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị Phàng Thị H xin chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Tại Đơn xin lựa chọn Toà án và giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 21/3/2023, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã VL, huyện VK, tỉnh Bạc Liêu anh Võ Văn D trình bày:

Về quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh hoàn toàn nhất trí như ý kiến của chị Phàng Thị H trình bày. Vợ chồng anh chị kết hôn với nhau ngày 31/8/2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã VL, huyện VK, tỉnh Bạc Liêu. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì vợ chồng anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung. Chị Phàng Thị H đã về sinh sống tại Bản SV, xã KB, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2022 cho đến nay. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không thành.Chị Phàng Thị H có đơn đề nghị xin ly hôn với anh Võ Văn D thì ý kiến của anh Võ Văn D là nhất trí ly hôn.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh Võ Văn D. xác định có 01 con chung như chị Phàng Thị H trình bày. Nếu ly hôn, anh nhường quyền nuôi con cho chị Phàng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về tài sản chung, tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên như sau:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, nghị án Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm.

+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Đối với nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Đối với bị đơn, sau khi thụ lý vụ án bị đơn đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn biết về việc khởi kiện của nguyên đơn, đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án, bị đơn xin được giải quyết, xét xử vắng mặt. Toà án áp dụng khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án là đúng với quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án như sau: Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử cho Chị Phàng Thị H được ly hôn với anh Võ Văn D.

- Về con chung: Giao cháu Võ Thị Tuyết L, sinh ngày 04 tháng 10 năm 2020 cho Chị Phàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Võ Văn D do chị Phàng Thị H không yêu cầu.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có.

- Về án phí: Chị Phàng Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bị đơn anh Võ Văn D có đơn xin xét xử vắng mặt có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã VL, huyện VK, tỉnh Bạc Liêu. Trong quá trình giải quyết vụ án về phía bị đơn anh Võ Văn D đã được nhận tài liệu gồm Đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu khác do nguyên đơn cung cấp, đã nhận được văn bản tố tụng của Toà án. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phàng Thị H và anh Võ Văn D. kết hôn với nhau ngày 31 tháng 8 năm 2020. Khi kết hôn hai anh, chị đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện không thuộc các trường hợp cấm kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã VL, huyện VK, tỉnh Bạc Liêu. Do đó quan hệ hôn nhân của chị Phàng Thị H và anh Võ Văn D là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do anh, chị bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được gia đình hai bên khuyên ngăn, hoà giải nhưng không có kết quả, hai anh, chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay, không bên nào chăm lo đến cuộc sống chung của gia đình nữa. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Phàng Thị H và anh Võ Văn D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho Chị Phàng Thị H được ly hôn anh Võ Văn D.

Về con chung: Chị Phàng Thị H và anh Võ Văn D có 01 con chung là cháu Võ Thị Tuyết L, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2020. Chị Phàng Thị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Võ Thị Tuyết L và không đề nghị cấp dưỡng. Tại Bản tự khai ngày 04/5/2023 anh Võ Văn D nhất trí để chị Phàng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cháu Võ Thị Tuyết L.

Xét thấy, Cháu Võ Thị Tuyết L hiện nay đang sống cùng với chị Phàng Thị H.Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung cần giao cháu Cháu Võ Thị Tuyết L cho chị Phàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Chị Phàng Thị H không yêu cầu, đề nghị gì do đó cần tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Võ Văn D.

Về tài sản chung, tài sản riêng và nợ chung: Không có.

Về án phí: Mặc dù chị Phàng Thị H hiện đang sinh sống tại xã khu vực III thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Quyết định số: 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính Phủ. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị H không đề nghị được miễn án phí. Do đó chị phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử cho chị Phàng Thị H được ly hôn anh Võ Văn D.

2. Về con chung: Giao cháu Võ Thị Tuyết L, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2020 cho chị Phàng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Võ Thị Tuyết L thành niên, (đủ 18 tuổi), có khả năng lao động. Về cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với Anh Võ Văn D do chị Phàng Thị H không yêu cầu.

Không ai được cản trở quyền trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung: Không có.

4. Về án phí: Chị Phàng Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La theo biên lai thu tiền số: AA/2021/00002799 ngày 12 tháng 4 năm 2023.

5. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 27/6/2023).

Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ