- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TP Trần Đại Dương"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MY TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-4-2023 V/v:”Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MY - TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Đại Dương.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Hà.
2. Ông Ngô Thanh Hà.
- Thư ký Toà án: Ông Phạm Quang Hà – Cán bộ Toà án nhân dân huyện MY, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MY, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Đỗ Đình Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 12/4/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện MY, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 103/2022/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 10 năm 2022, về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2023 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vi Thị L – sinh năm: 1982
Địa chỉ: Làng Đ, xã K, huyện MY, tỉnh Gia Lai. Có mặt
- Bị đơn: Ông Lý Văn B – sinh năm: 1985
Địa chỉ: Làng Đ, xã K, huyện MY, tỉnh Gia Lai Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NHẬN THẤY:
Theo Đơn khởi kiện ngày 19/10/2022, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Vi Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Lý Văn B sau thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện K (nay là huyện C K), tỉnh Đăk Lăk vào ngày 02/12/2005. Vợ chồng sống chung với nhau nhưng không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn cãi vã, ông B hay nhậu nhẹt không lo làm ăn rồi sau xỉn về nhà chửi bới đánh đập tôi. Tôi nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài được nữa, tình cảm vợ chồng không còn nên tôi làm đơn khởi kiện xin ly hôn để mong Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Lý Văn B.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Lý Minh H, sinh ngày 05/4/2008 và Lý Văn Th, sinh ngày 03/8/2006. Sau khi ly hôn, tôi có nguyện vọng nuôi cả 02 con là các cháu H và cháu Th. Không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng tôi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn trong vụ án là ông Lý Văn B:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho ông Lý Văn B gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập làm việc, Thông báo về các phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, ông B vẫn cố tình không đến làm việc và tham gia phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên tòa. Ông B cố tình không có ý kiến gì thể hiện chính kiến về giải quyết cụ án. Do đó, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Lý Văn B.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MY đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, các Điều 147, 228, 235, 238 và 264 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vi Thị L và cho bà L được ly hôn ông Lý Văn B.
- Giao cho bà Vi Thị L được nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung là cháu Lý Minh H, sinh ngày 05/4/2008 và Lý Văn Th, sinh ngày 03/8/2006.
Ông Lý Văn B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Buộc bà Vi Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Vi Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Lý Văn B, đây là tranh chấp về ly hôn. Ông Lý Văn B có hộ khẩu thường trú tại làng Đ, xã K, huyện MY, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện MY thụ lý, giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông Lý Văn B vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông B là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Vi Thị L và ông Lý Văn B kết hôn với nhau năm 2005, có đăng ký kết hôn ngày 02/12/2005 tại UBND xã C, huyện K (nay là huyện C K), tỉnh Đăk Lăk. Việc kết hôn của ông bà là tự nguyện, trước khi kết hôn ông bà có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau; được hai bên gia đình đồng ý và có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Vì vậy, hôn nhân của bà L và ông B là hôn nhân hợp pháp.
Xét tình trạng hôn nhân giữa bà Vi Thị L và ông Lý Văn B thấy rằng vợ chồng sống với nhau nhưng không có hạnh phúc. Ông B không lo tu chí làm ăn, lo cho gia đình mà thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc nên vợ chồng luôn mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay ông bà đã sống sống ly thân nhau. Do đó, bà Vi Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện MY giải quyết cho chị được ly hôn với ông Lý Văn B là có cơ sở nên cần căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Vi Thị L ly hôn ông Lý Văn B.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã phải tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật vì ông B có mặt tại nhà riêng nhưng từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, do đó không tống đạt trực tiếp được và mỗi lần Tòa án triệu tập để làm việc cũng như tham gia phiên tòa ông B đều vắng mặt không có lý do. Việc không chấp hành của ông B thể hiện thái độ thiếu tôn trọng pháp luật, không những từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình, mà còn gây cản trở cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với ông B theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự đồng thời căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa cũng như xem xét ý kiến của nguyên đơn để quyết định là hợp lý. Ông B phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Qua xác minh: Được ông B là thôn trưởng làng Đ, xã K cung cấp thông tin mâu thuẫn giữa bà L, ông B xảy ra đã lâu, hiện nay ông B vẫn ở tại địa phương nhưng thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc. Chính quyền đã nhiều lần cùng cán bộ Tòa án đến nhà giao văn bản tố tụng nhưng ông B đều từ chối, không hợp tác. Thực tế, về quan hệ hôn nhân của bà L và ông B đã ly thân nhau, không ai còn quan tâm, chăm sóc nhau nên khó có thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được.
Xét tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông B, tình trạng hôn nhân của ông bà đã đến mức trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà L, xử cho bà được ly hôn với ông B là hợp lý.
Về con chung: Bà L và ông B có 02 con chung là cháu Lý Minh H, sinh ngày 05/4/2008 và Lý Văn Th, sinh ngày 03/8/2006. Sau khi ly hôn, bà L có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung là cháu H và cháu Th. Bà L không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ cần chấp nhận.
Xét nguyện vọng xin được nuôi con của bà L là chính đáng và phù hợp với các quy định của pháp luật vì ông B thường xuyên nhậu nhẹt, cờ bạc, không lo tu chí làm ăn và các cháu cần sự thương yêu, chăm sóc của người mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L và giao cho chị được nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc các cháu Lý Minh H, sinh ngày 05/4/2008 và Lý Văn Th, sinh ngày 03/8/2006. Mặt khác, cháu H và cháu Th cũng có ý kiến muốn được ở với mẹ. Đồng thời, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của ông B đối với các con của nguyên đơn.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Vi Thị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Vi Thị L.
- Bà Vi Thị L được ly hôn với ông Lý Văn B.
2. Về con chung:
Giao cho bà Vi Thị L được nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc các cháu Lý Minh H, sinh ngày 05/4/2008 và Lý Văn Th, sinh ngày 03/8/2006 cho đến khi các con chung thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Lý Văn B không phải phải cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Bà Vi Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Toà án số 0010749, ngày 19/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện MY, tỉnh Gia Lai. Bà L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 12/4/2023), nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện MY; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện MY; - UBND xã C; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa Trần Đại Dương CAÙC HOÄI THAÅM NHAÂN DAÂN THAÅM PHAÙN - CHUÛ TOÏA PHIEÂN TOØA |