vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị H G Niê được ly hôn với anh Y M Ayŭn.

Về nuôi con chung: Giao con chung cháu H Thu L Niê, sinh ngày 25-6-2011 cho chị H G Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi. Anh Y M Ayŭn được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản anh Y M Ayŭn thực hiện quyền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H G Niê-Y M Ayun"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị H G Niê được ly hôn với anh Y M Ayŭn.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày 07-03-2023
“Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Dương Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Xuân Vinh, nghề nghiệp: Nguyên là giáo viên.

2. Bà Trịnh Thị Oanh, nghề nghiệp: Nguyên là giáo viên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lường - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia

phiên tòa: Ông Y Dim Kbuôr - chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 406/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/01/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16/02/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị H G Niê, sinh năm 1991; - Có mặt

Địa chỉ: Buôn J, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Anh Y M Ayŭn, sinh năm 1992; - Vắng mặt

Địa chỉ: Buôn J, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị H G Niê trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với anh Y M Ayŭn kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12-7-2012, theo giấy chứng nhận kết hôn số 111, quyển số I/2012.

Quá trình vợ chồng chung sống thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, anh Y M Ayŭn không lo làm ăn, anh thường xuyên đánh đập và xúc phạm tôi, bạo lực gia đình đối với tôi. Tôi đã nhiều lần bỏ qua cho anh Y M Ayŭn nhưng anh vẫn không thay đổi.

Xét mục đích hôn nhân của chúng tôi không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn nên tôi đã làm đơn khởi kiện xin được ly hôn với anh Y M Ayŭn. Nguyện vọng của tôi đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho tôi với anh Y M Ayŭn được ly hôn.

- Về con chung: Giữa tôi với anh Y M Ayŭn có 01 con chung là cháu H Thu L Niê, sinh ngày 25-6-2011. Hiện cháu còn nhỏ, đang sống cùng với tôi. Nay vợ chồng ly hôn thì tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H Thu L Niê cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Tôi không yêu cầu anh Y M Ayŭn phải cấp dưỡng tiền nuôi con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, về nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra tôi không có yêu cầu gì thêm.

* Đối với bị đơn anh Y M Ayŭn: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Y M Ayŭn là bị đơn biết để đến làm việc tại Tòa án, nhưng anh Y M Ayŭn vẫn không đến làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án tại các buổi làm việc, các phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành ghi nhận được ý kiến của anh Y M Ayŭn.

Quá trình làm việc, Tòa án đã nhiều lần mời các đương sự lên làm việc nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Nên Tòa án không thể hòa giải cho các đương sự để đoàn tụ được, bản thân chị H G Niê vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Y M Ayŭn. Do đó, căn cứ Điều 203 và Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị H G Niê vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử cho chị và anh Y M Ayŭn được ly hôn, cho chị được quyền nuôi con chung giữa chị và anh Y M Ayŭn. Chị không yêu cầu anh Y M Ayŭn phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; về tài sản chung và về nợ chung thì chị H G Niê xác định giữa chị và anh Y M Ayŭn tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa:

Về tố tụng: Đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do là vi phạm quy định tại các Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H G Niê.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị H G Niê được ly hôn với anh Y M Ayŭn.

- Về nuôi con chung: Giao con chung cháu H Thu L Niê, sinh ngày 25-6-2011 cho chị H G Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi cháu tròn 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H G Niê không yêu cầu anh Y M Ayŭn phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không đề cập để giải quyết.

- Về tài sản chung, về nợ chung: Chị H G Niê và anh Y M Ayŭn tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về nội dung vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền: Căn cứ vào đơn khởi kiện thì bị đơn anh Y M Ayŭn có nơi cư trú tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ tranh chấp: Chị H G Niê khởi kiện xin được ly hôn với anh Y M Ayŭn đồng thời giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con chung. Nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên toà lần thứ nhất, bị đơn anh Y M Ayŭn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử hoãn phiên toà và tiếp tục tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên toà thông báo cho các đương sự mở lại phiên toà lần hai. Tuy nhiên tại phiên toà, bị đơn anh Y M Ayŭn vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung khởi kiện: Chị H G Niê làm đơn xin được ly hôn với anh Y M Ayŭn. Hội đồng xét xử thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và việc thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương thể hiện: Chị H G Niê với anh Y M Ayŭn kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12-7-2012, theo giấy chứng nhận kết hôn số 111, quyển số I/2012. Vì vậy, xác định hôn nhân giữa chị H G Niê và anh Y M Ayŭn là hôn nhân hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo lời trình bày của chị H G Niê thì quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, anh Y M Ayŭn không lo làm ăn, anh thường xuyên đánh đập và xúc phạm chị, bạo lực gia đình đối với chị. Chị đã nhiều lần bỏ qua cho anh Y M nhưng anh vẫn không thay đổi.

Và theo biên bản xác minh vào ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại Ban tự quản Buôn J, xã E cung cấp thể hiện (BL 32): “...Ban tự quản thấy anh Y M Ayŭn ở nhà một mình và không chịu khó lao động, còn chị H G Niê đã mang con chung về sinh sống tại nhà cha mẹ đẻ từ đầu năm cho đến nay, hai bên không còn quan tâm chăm sóc gì nhau”. Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, có nghĩa vụ chung sống với nhau.

Như vậy, căn cứ vào tình trạng hôn nhân thực tế giữa chị H G Niê với anh Y M Ayŭn, Hội đồng xét xử thấy: mâu thuẫn giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H G Niê yêu cầu xin ly hôn đối với anh Y M Ayŭn là có căn cứ. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H G Niê, cho chị H G Niê được ly hôn với anh Y M Ayŭn.

- Về con chung: Quá trình chung sống, giữa anh chị có 01 con chung là cháu H Thu L Niê, sinh ngày 25-6-2011, hiện cháu còn nhỏ. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Qua xem xét lời khai của cháu H Thu L Niê thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Bản thân chị H G có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu H Thu L Niê, chị H G có công ăn việc làm ổn định, có nơi cư trú rõ ràng. Bị đơn anh Y M đã được Tòa án mời làm việc nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không thể tiến hành ghi nhận ý kiến của anh Y M.

Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên. Căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Hội đồng xét xử thấy: giao con chung cháu H Thu L Niê, sinh ngày 25-6-2011 cho chị H G Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng khi ly hôn là phù hợp.

Anh Y M Ayŭn được quyền đi lại, thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản anh Y M Ayŭn thực hiện quyền này.Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án, chị H G Niê không yêu cầu anh Y M Ayŭn phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập để xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, về nợ chung: Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án, chị H G Niê với anh Y M Ayŭn tự thỏa thuận tài sản chung, nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập để xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H G Niê phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tại phiên tòa là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H G Niê được ly hôn với anh Y M Ayŭn.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu H Thu L Niê, sinh ngày 25-6-2011 cho chị H G Niê trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi.

Anh Y M Ayŭn được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản anh Y M Ayŭn thực hiện quyền này.

Vì quyền lợi của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.

4. Về tài sản chung, về nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.

5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H G Niê phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí mà chị H G Niê đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2021/0006471 ngày 07 tháng 10 năm 2022.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ