vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lại Văn Đ được ly hôn chị Phạm Thị Thủy N.

Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung là Lại Thị Thùy L, sinh ngày 05/8/2012 và Lại Gia H, sinh ngày 21/6/2015 cho anh Lại Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Chị Phạm Thị Thủy N phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh Định mỗi con 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 02/2023. Việ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Lại Văn Định xin ly hôn, tranh chấp nuôi con đối với chị Phạm Thị Thủy Nhung."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lại Văn Đ được ly hôn chị Phạm Thị Thủy N.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08-02-2023
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vũ Thị Hoàn;

2. Bà Đoàn Thị Duyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thìn – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 143/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lại Văn Đ, sinh năm 1989

Địa chỉ: xóm 3, thôn L, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Chị Phạm Thị Thủy Nh, sinh năm 1993

Địa chỉ: thôn 4, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

(Anh Đ, chị N đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lại Văn Định trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị Thủy N, sinh năm 1993 địa chỉ: thôn 5, xã V, huyện , tỉnh Thái Bình tìm hiểu và kết hôn vào ngày 24 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình . Quá trình chung số ng sau khi k ết hôn thì vợ chồ ng chung s ống hạnh phúc được đến cuối năm 2018, sau đó phá t sinh mâu thuẫ n do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Do mâu thuẫn hiện nay anh chị đã sống ly thân từ năm 2018, chị N và hai con về nhà mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị N địa chỉ thôn 4, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình ở từ đó đến nay. Do thời gian đã lâu vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh xác định tình cảm giữa anh và chị N không còn, không thể chung sống được nữa, nên xin ly hôn chị N để giải phóng cho nhau.

Về quan hệ con chung: Anh và chị N có 02 con chung là Lại Thị Thùy L, sinh ngày 05/8/2012 và Lại Gia H, sinh ngày 21/6/2015. Hiện nay hai con đang ở cùng với chị N tại thôn 4, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Hiện cháu L đang học lớp 5C, cháu H học lớp 2C trường tiểu học và trung học xã V, huyệ n Kiế n Xương, tỉnh Thái Bình. Do chị N lao động tự do không thường xuyên có mặt tại địa phương nên anh xin được quyền nuôi con Lại Thị Thùy L và con Lại Gia H, yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con cùng anh 2.000.000 đồng/con/tháng

Về tài sản: Anh và chị Nh không có tài sản chung, không vay ai và cũng không cho ai vay bất cứ tài sản gì. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 07/02/2023 bị đơn chị Phạm Thị Thủy N có đơn đề nghị và trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lại Văn Đ, sinh năm 1989, địa chỉ: xóm 3, thôn L, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình tìm hiểu và kết hôn vào ngày 24 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình . Quá trình chung sống sau khi k ết hôn thì vợ chồ ng chung s ống hạnh phúc được đến cuối năm 2018, sau đó phá t sinh mâu thuẫ n do b ất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Do mâu thuẫn hiện nay vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018, chị và hai con về nhà mẹ đẻ tại thôn 4, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình ở từ đó đến nay. Do thời gian đã lâu vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị xác định tình cảm giữa chị và anh Đ không còn, không thể chung sống được nữa. Anh Đ làm đơn xin ly hôn chị nhất trí và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Đ được ly hôn giải phóng cho nhau.

Về quan hệ con chung: Chị và anh Đ có 02 con chung là Lại Thị Thùy L, sinh ngày 05/8/2012 và Lại Gia H, sinh ngày 21/6/2015. Hiện nay hai con đang ở cùng với chị tại thôn 4, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Hiện cháu L đang học lớp 5C, cháu H học lớp 2C trường tiểu học và trung học xã V, huyệ n Kiế n Xương, tỉnh Thái Bình. Do công việc là lao động tự do không thường xuyên có mặt tại địa phương nên chị nhường quyền nuôi con Lại Thị Thùy L và con Lại Gia H cho anh Đ nuôi dạy, hàng tháng chị cấp dưỡng nuôi con cùng anh Đ 2.000.000 đồng/con/tháng.

Về quan hệ tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không vay ai và cũng không cho ai vay bất cứ tài sản gì. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì lý do công việc lao động tự do thường xuyên di chuyển nơi làm việc, không thường xuyên có mặt tại địa phương nên chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị N - mẹ đẻ của chị N trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng anh Đ chị N chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, chị N đã về nhà bà ở tại thôn 4, xã V, huyện K từ đó đến nay. Hiện chị N đi làm xa, có trao đổi với bà về quan điểm chị N nhất trí ly hôn với anh Đ, chị Nhung và anh Định có hai con chung Lại Thị Thùy L và con Lại Gia H hiện đang nhờ bà trông nom hộ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70,71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh Lại Văn Đ được ly hôn chị Phạm Thị Thủy N. Về con chung: giao con chung Lại Thị Thùy L và con Lại Gia H cho anh Định trực tiếp nuôi dưỡng, hàng tháng chị Nhung cấp dưỡng nuôi con cùng anh Định 2.000.000 đồng/con/tháng. Về tài sản chung, nợ chung: anh Đ, chị N đều không yêu cầu, không đặt ra giải quyết. Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

Về thủ tục tố tụng:Anh Lại Văn Đ khởi kiện xin ly hôn chị Phạm Thị Thủy N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn 4, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị N đã tự nguyện đăng ký kết hôn ngày ngày 24 tháng 02 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc trong khoảng thời gian đầu, đến cuối năm 2018 thì thường phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân của mâu thuẫn, xác định do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không có tiến nói chung trong cuộc sống. Đến cuối năm 2018, do mâu thuẫn trầm trọng, chị N cùng hai con về nhà mẹ đẻ tại thôn 4, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình ở từ đó đến nay, giữa vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau. Anh Đ và chị N đều có quan điểm nhất trí ly hôn, như vậy có căn cứ để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Đ và chị N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần xử cho anh Đ được ly hôn với chị N.

Về quan hệ con chung: Anh Đ và chị N có 02 con chung là Lại Thị Thùy L, sinh ngày 05/8/2012 và Lại Gia H, sinh ngày 21/6/2015. Anh Đ và chị N đều có quan điểm thống nhất giao 02 con Lại Thị Thùy L và con Lại Gia H cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, hàng tháng chị N cấp dưỡng nuôi con cùng anh Đ 2.000.000 đồng/con/tháng. Xét thấy quan điểm đề nghị của các đương sự là chính đáng, đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của con chung nên cần chấp nhận.

Về quan hệ tài sản: Anh Đ và chị N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Anh Đ là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Anh Đ và chị N được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lại Văn Đ được ly hôn chị Phạm Thị Thủy N.

2. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung là Lại Thị Thùy L, sinh ngày 05/8/2012 và Lại Gia H, sinh ngày 21/6/2015 cho anh Lại Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Chị Phạm Thị Thủy N phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh Định mỗi con 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 02/2023.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi anh Đ và chị N có yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Anh Lại Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng anh đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001726 ngày 17/10/2022 sang thi hành án phí, anh Đ đã nộp đủ. Chị Phạm Thị Thủy N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Đ và chị N vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ