- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc Liễu 'Ly hôn" Nguyễn Hữu Dũng"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐL TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16-01-2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐL, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Bình
2. Bà Lê Hoàng Mỹ Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 429/2022/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2022; về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 261/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 09 tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn 5, xã ĐK, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn 5, xã ĐK, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, anh Nguyễn Hữu D tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân và đăng đăng ký kết hôn vào năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã ĐK huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn chị L, anh D sinh sống tại thôn 5, xã ĐK, huyện ĐL. Thời gian đầu đời sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2020 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh D không chung thủy, có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, chơi bời, cờ bạc, không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, gây ra nợ nần. Mặc dù chị L và hai bên gia đình nội ngoại đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng anh D vẫn không thay đổi, từ đó vợ chồng thiếu tin tưởng, chia sẽ lẫn nhau, nên chị L anh D sống ly thân, từ khi sống ly thân chị L, anh D không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau. Hiện nay chị L không còn tình cảm với anh D và không mong muốn chung sống với anh D nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Chị L, anh D có hai người con chung là Nguyễn Khánh Ng, sinh ngày 10/10/2010 và Nguyễn Phước Gia B, sinh ngày 06/02/2018. Khi ly thân đến nay cả hai con đều do chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết quyền nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu D:
Sau khi thụ lý vụ án mặc dù đã được Tòa án thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra viên giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra viên giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại biên bản xác minh bút lục 32 thể hiện:
Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1987 có đăng ký hộ khẩu và thường trú tại thôn 5, xã ĐK, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận.
Tại biên bản xác minh bút lục 31 thể hiện:
Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm 1987; chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1990 là vợ chồng, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị L, anh D sống tại nhà riêng. Anh D là người có bài bạc, tuy nhiên chưa bị xử lý.
Tại biên bản xác minh bút lục số 30 thể hiện:
Chị Nguyễn Thị Ngọc L, anh Nguyễn Hữu D tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân gia đình có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị L, anh D ở riêng, thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc và có hai con chung. Tuy nhiên, sau này anh D sinh ra bài bạc, quan hệ bất chính với người khác. Mặc dù hai bên gia đình nhiều lần khuyên bảo, động viên, hòa giải nhưng anh D vẫn không thay đổi, nên vợ chồng đã sống ly thân.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐL:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
+ Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với anh Nguyễn Hữu D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền: Bị đơn anh Nguyễn Hữu D cư trú tại thôn 5, xã ĐK, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Hữu D nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lế đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Hữu D nhưng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Ngọc L, anh Nguyễn Hữu D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 25/5/2010, số vào sổ 37, quyền số 01/2010 tại Ủy ban nhân dân xã ĐK, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn chị L, anh D chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh D không chung thủy, ham mê cờ bạc, thiếu trách nhiệm với gia đình. Mặc dù chị L và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, đồng viên để anh D thay đổi nhưng không có kết quả, từ đó vợ chồng ly thân. Do cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, chị L không còn tình cảm với anh D nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Bản thân anh D sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để các bên quay về chung sống với nhau nhưng không tham gia, chứng tỏ anh D cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với chị L. Trong khi đó chị L cương quyết ly hôn. Điều này chứng tỏ tình trạng mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh D đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn.
Từ đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử cho chị L được ly hôn với anh D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không tranh chấp và không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Cần buộc chị L phải chịu án phí ly hôn là phù hợp.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 203; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với anh Nguyễn Hữu D.
Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 25/5/2010, số vào sổ 37, quyền số 01/2010 tại Ủy ban nhân dân xã ĐK, huyện ĐL, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0012463 ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐL. Chị L đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện ĐL; - UBND ĐK, huyện ĐL; - C.C Thi hành án DS.h. ĐL; - Các đương sự; - Lưu HS, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Trường |