vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị N, cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Lâm Văn H.

[2]. Về con chung: Giao con Lâm Văn G, sinh ngày 01/3/2011 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Lâm Văn H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung. Về… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị N, cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Lâm Văn H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 4 - 2023
V/v Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Nhường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hương

Bà Trần Thị Vân

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ không tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 18/2023/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 21/3/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1992/ có mặt.

Nơi cư trú: Xóm 6, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Anh Lâm Văn H, sinh năm 1987/ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Xóm K, xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày: Chị và anh Lâm Văn H kết hôn tháng 5 năm 2010, việc kết hôn có được tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn B (nay là phường B), thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách của hai người không có sự hòa hợp nhau, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Chị N và anh H đã sống ly thân được nhiều năm, hiện không ai còn quan tâm đến ai.

Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hàn gắn, cuộc sống chung vợ chồng thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lâm Văn H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con là Lâm Văn G, sinh ngày 01/3/2011. Khi ly hôn do con đang ở với chị N từ nhỏ nên chị N nhận trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh H phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung.

Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Lâm Văn H trình bày: Về quá trình kết hôn và chung sống đúng như chị N trình bày. Anh và chị Trần Thị N kết hôn tháng 5 năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn B (nay là phường B), thành phố P, có được tự nguyện. Quá trình chung sống không có nhiều sự bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Tuy anh chị đã sống ly thân được nhiều năm, hiện không ai quan tâm đến ai nhưng đến nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, vẫn có thể hàn gắn nên không nhất trí ly hôn với chị N, anh cần con có cả bố và mẹ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con là Lâm Văn Giang, sinh ngày 01/3/2011. Nếu phải ly hôn anh đồng ý để chị N trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải, xong các bên vẫn giữ nguyên quan điểm không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, do vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và lời trình bày của đương sự Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị N khởi kiện xin ly hôn với bị đơn là anh Lâm Văn H, bị đơn đang cư trú tại xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn đến Tòa án trình bày bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H không đến tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử vụ án và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. HĐXX căn cứ vào Điều 227, 228 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt anh Lâm Văn H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Lâm Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kêt hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Căn cứ lời khai của hai bên đương sự xác định được mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn sự hòa hợp và đã sống ly thân được gần 10 năm nay. Trong quá trình giải quyết, hòa giải tại Tòa án và tại phiên tòa hôm nay chị N đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn và xin được ly hôn anh H. Còn anh H xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không nhất trí ly hôn và muốn chị N quay về đoàn tụ vợ chồng cùng nuôi dạy con chung. Tuy nhiên trong thời gian khoảng gần 10 năm qua và kể từ khi chị N khởi kiện xin ly hôn đến nay anh H không có cách nào hòa giải đoàn tụ với chị N, không có cách nào thuyết phục được chị N rút đơn quay về chung sống với anh. Hội đồng xét xử xét thấy chị N và anh H đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng kéo dài nhiều năm không thể hàn gắn, hai bên không còn tìm thấy sự đồng điệu, gắn bó, sẻ chia trong cuộc sống, mục đích hôn nhân không đạt được, hai người đã sống ly thân nhiều năm không còn khả năng đoàn tụ, do đó yêu cầu xin ly hôn của chị N được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Lâm Văn H.

[3] Về con chung: Chị Trần Thị N và anh Lâm Văn H có 01 con chung là Lâm Văn Giang, sinh ngày 01/3/2011. Khi ly hôn chị Trần Thị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi con, còn anh H có ý kiến nếu phải ly hôn anh đồng ý để chị N trực tiếp nuôi con. Xét thấy con từ nhỏ đến nay do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Giang có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, cần giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét về việc cấp dưỡng nuôi con chung do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

[4] Về tài sản chung: Hai bên đương sự xác định không có.

[5] Về nợ chung: Chị N và anh H xác định vợ chồng không có nợ chung.

[6] Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, 39, 147, 174, 177, Điều 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56; 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị N, cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Lâm Văn H.

[2]. Về con chung: Giao con Lâm Văn G, sinh ngày 01/3/2011 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh Lâm Văn H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được phép ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu giải quyết trong vụ án này nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên đương sự có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Tài sản chung: Không có.

[4]. Về nợ chung: Hai bên đương sự đều xác định không có.

[5]. Án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003736 ngày 24/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

[6]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn là chị Trần Thị N biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là anh Lâm Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ