vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Đình T. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Vũ Đình T và bà Phạm Thị H, buộc ông T và bà H phải chấm dứt cuộc sống chung như vợ chồng. Quan hệ hôn nhân chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Ông Vũ Đình T Bị đơn Bà Phạm Thị H"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ JÚT
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST.
Ngày 30/03/2023.
“V/v không công nhận
quan hệ vợ chồng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thắm và bà Nguyễn Thị Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút.

- Đại diện VKSND huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Dương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/03/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông. Tòa án nhân dân huyện Cư Jút mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 19/2023/TLST-HNGĐ ngày 20/02 /2023, về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày10/03/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Vũ Đình T, sinh năm 1967.

Địa chỉ: Thôn 9, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Thôn 9, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt )

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa ông Vũ Đình T trình bày: Vào năm1993 ông Vũ Đình T và bà Phạm Thị H tự nguyện yêu nhau và sống chung với nhau không bên nào ép buộc bên nào, không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống ông T và bà H sống hạnh phúc được khoảng 18 năm thì phát sinh ra mâu thuẫn, nguyên nhân giữa ông T và bà H không có tiếng nói chung, không hòa hợp nhau, bà H thường xuyên vắng nhà, từ đó phát sinh ra mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chính vì vậy ông T cảm thấy hai người không sống chung với nhau nữa nên làm đơn yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng; Về con chung: Trong thời gian ông T và bà H sống chung với nhau được 03 đứa con chung là Vũ Thị Hoài C, sinh năm 1994 (đã trưởng thành và có gia đình), Vũ Hồng Q, sinh năm 1996 (đã trưởng thành và có gia đình) và Vũ Thị Nhật T, sinh năm 1998 (đã trưởng thành và có gia đình) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bà Phạm Thị H trình bày: Vào ngày năm 1993 bà H cùng ông Vũ Đình T tự nguyện yêu nhau, sống chung với nhau không bên nào ép buộc bên nào, không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 15 năm thì phát sinh ra mâu thuẫn, nguyên nhân do hai người không có tiếng nói chung, không hòa hợp nhau, từ đó phát sinh ra mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chính vì vậy ông T làm đơn yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng bà Huê không đồng ý vì bà H còn tình cảm với ông T; Về con chung: Trong thời gian bà H và ông T sống chung với nhau được 03 đứa con chung là Vũ Thị Hoài C, sinh năm 1994 (đã trưởng thành và có gia đình), Vũ Hồng Q, sinh năm 1996 (đã trưởng thành và có gia đình) và Vũ Thị Nhật T, sinh năm 1998 (đã trưởng thành và có gia đình) nên bà H không yêu cầu tòa án giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng cũng như nội dung vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án và của HĐXX tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

- Về phía người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình; Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 228 của BLTTDS.

- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

XÉT THẤY

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và việc thẩm tra tại phiên tòa ngày hôm nay, HĐXX nhận định:

. Về quan hệ pháp luật: Ông Vũ Đình T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông Vũ Đình T và bà Phạm Thị H không công nhận quan hệ vợ chồng. Vì vậy quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình với nội dung “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại khoản 7 Điều 28 của BLTTDS.

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Vũ Đình T và bà Phạm Thị H hiện đều có địa chỉ tại thôn 9, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Vũ Đình T và bà Phạm Thị H sống chung với nhau từ năm 1993 nhưng không có đăng ký kết hôn, không tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm ông T và bà H chung sống cả hai có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nhưng không có đăng ký kết hôn. Như vậy ông T và bà H về mặt pháp luật vẫn chưa được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định về đăng ký kết hôn. Đoạn 2 điểm b mục 3 Nghị quyết số: 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội quy định:“Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”.

Đoạn 2 Điều 87 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

“Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Toà án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật này.”

Tại Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014...“Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng…”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này…”.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông T yêu cầu tòa án giải quyết ông T và bà H không công nhận quan hệ vợ chồng để đảm bảo cuộc sống cho hai bên, nên cần được chấp nhận.

Đối với bà H cho rằng ông T và bà H vẫn còn tình cảm, bà không đồng ý ông T yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận vợ chồng, tuy nhiên xét về mặc pháp lý giữa bà H và ông T sống chung với nhau như vợ chồng không tuân thủ theo quy định của pháp luật. Do vậy không chấp nhận yêu cầu của bà H mà cần buộc chấm dứt giữa bà H và ông T quan hệ như vợ chồng.

. Về con chung: 03 con chung của ông T và bà H là Vũ Thị Hoài C, sinh năm 1994 (đã trưởng thành và có gia đình), Vũ Hồng Q, sinh năm 1996 (đã trưởng thành và có gia đình) và Vũ Thị Nhật T, sinh năm 1998 (đã trưởng thành và có gia đình) nên không đề cập xem xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà H không yêu cầu tòa án giải quyết nên không đề cập.

. Về án phí: Ông Vũ Đình T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc không công nhận quan hệ vợ chồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của BLTTDS;

- Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Đình T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Vũ Đình T và bà Phạm Thị H, buộc ông T và bà H phải chấm dứt cuộc sống chung như vợ chồng. Quan hệ hôn nhân chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: 03 con chung của ông Vũ Đình T và bà Phạm Thị H đều đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên không đề cập xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Vũ Đình T và bà Phạm Thị H không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung nên Tòa không đề cập.

4. Về án phí: Buộc ông Vũ Đình T phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) ông T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Nông theo biên lai số 0000138 ngày 14/02/2023.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ