- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHÙNG VẦN K - ĐẶNG MÙI S"
- Tòa quyết gì? 4 Điều 147; Điều 195; Điều 220; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266 và Điều 273
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 07/2023/HNGĐ-ST |
HUYỆN P Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Ngày 09, “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Quảng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Công Chự 2. Ông Nguyễn Ngọc Bình - Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Nhất Linh - Kiểm sát viên. Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 341/2022/TLST-HNGĐ ngày 23/11/2023 về việc “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 341/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Anh Phùng Vần K, sinh năm 1993 Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Bị đơn: Chị Đặng Mùi S, sinh năm 1993 Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện P, tỉnh, Gia Lai. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nguyên đơn là anh Phùng Vần K trình bày: Về hôn nhân: Anh K và chị S qua tìm hiểu tự nguyện đi đến hôn nhân và
có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P ngày 17/12/2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 chị S quen người khác, từ đó vợ chồng sống ly thân cho đến nay, anh K đã nhiều lần liên lạc nhưng chị S không quay về sống chung. Nay anh K thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với chị S. Về con chung: Anh K và chị S có 02 con chung là Phùng Mùi Thu H, sinh ngày 16/02/2012 và Phùng Mùi S1, sinh ngày 03/4/2015, hiện cả hai con chung đang do anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, anh K yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cả hai con chung. Về cấp dưỡng: Anh K không yêu cầu chị S cấp dưỡng. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng để triệu tập bị đơn chị Đặng Mùi S đến làm việc, nhưng chị S không có mặt theo nội dung triệu tập của Tòa án. Chị S cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên toà, nguyên đơn là anh Phùng Vần K vắng mặt. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, anh K giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị Đặng Mùi S, yêu cầu nuôi con chung là các cháu Phùng Mùi Thu H, sinh ngày 16/02/2012 và Phùng Mùi S1, sinh ngày 03/4/2015, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Tại phiên toà, bị đơn là chị Đặng Mùi S đã được triệu tập hợp lệ lần 2 vắng mặt.: Ý kiến của Viện kiểm sát: - Về việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Đảm bảo theo quy định của pháp luật. - Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng. - Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không. - Về nội dung đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Phùng Vần K đối với chị Đặng Mùi S. + Về con chung: Giao các cháu Phùng Mùi Thu H, sinh ngày 16/02/2012 và Phùng Mùi S1, sinh ngày 03/4/2015 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng
+ Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn. Các tài liệu, chứng cứ trong vụ án gồm có: Bản phô tô sổ hộ khẩu; Bản sao y căn cước công dân Phùng Vần K; Bản sao Giấy khai sinh Phùng Mùi Thu H và Phùng Mùi S1; Giấy chứng nhận kết hôn bản sao; Đơn từ chối hòa giải đối thoại tại tòa án; Bản tự khai của nguyên đơn; Biên bản ghi ý kiến con chưa thành niên; Biên bản xác minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Anh Phùng Vần K yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn với chị Đặng Mùi S. Đơn khởi kiện của anh Phùng Vần K phù hợp quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Đặng Mùi S hiện cư trú tại thôn Thôn K, xã P, huyện P, tỉnh Gia Lai, nên Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn anh Phùng Vần K và bị đơn chị Đặng Mùi S đã được Toà án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh K đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, chị S vắng mặt lần hai do vậy toà án nhân dân huyện P xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Anh Phùng Vần K và chị Đặng Mùi S có đăng ký kết hôn vào ngày 10/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Gia Lai, anh K và chị S kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và có đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp . Sau khi kết hôn, anh K và chị S chung sống hạnh phúc một thời gian thì anh K và chị S phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng năm 2018 anh K và chị S đã sống ly thân. Trong quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án đã nhiều lần tiến hành thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn để hòa giải cho các đương sự về đoàn tụ, xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, chị S đã không đến Tòa án để tiến hành hòa giải. Xét thấy tình trạng hôn nhân của anh K và chị S là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K. [3] Về con chung: Anh K và chị S có 02 (hai) con chung là Phùng Mùi Thu H, sinh ngày 16/02/2012 và Phùng Mùi S1, sinh ngày 03/4/2015. Anh K yêu cầu được nuôi cả hai con chung. Xét cha mẹ có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc con chưa thành niên. Xét yêu cầu của anh K, thấy rằng các cháu Hương và Sếnh hiện đang do anh K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, việc giao các cháu Hương và Sếnh cho anh K tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng là phù
hợp, đảm bảo sự phát triển bình thường của con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của nguyên đơn. Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét về cấp dưỡng. [4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc chia tài sản chung và nghĩa vụ thanh toán chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Về án phí: Anh K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 195; Điều 220; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Vần K. 1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phùng Vần K được ly hôn với chị Đặng Mùi S. 2. Về con chung: Giao con chung là các cháu Phùng Mùi Thu H, sinh ngày 16/02/2012 và Phùng Mùi S1, sinh ngày 03/4/2015 cho anh Phùng Vần K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con. 3. Về án phí: Buộc anh Phùng Vần K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng trước đây theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí toà án số 0004808 ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Gia Lai. Anh Phùng Vần K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. 4. Anh Phùng Vần K và chị Đặng Mùi S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - Các đương sự; - UBND xã P; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM T H Ẩ M PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Văn Quảng |