vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th, chị Th được ly hôn với anh Nông Văn S. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Th -Nông Văn S (Ly hôn)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/7/2023
“Về việc ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ – TỈNH BẮC KẠN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ma Thị Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Thu Trang và bà Đỗ Thị Láng

Thư ký phiên toà: Bà Bào Kim Vân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 39/2023/TLST – HNGĐ, ngày 17 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2023 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1986. Có mặt

- Bị đơn: Anh Nông Văn S, sinh năm 1991. Vắng mặt.

Đều cư trú tại: Thôn P, xã M, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/4/2023 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Thị Th trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nông Văn S kết hôn với nhau vào năm 2014, trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện được tìm hiểu về nhau và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã M, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 16/4/2014. Trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn phát sinh vào năm 2017, sau hai lần chị Thn phải mổ do chửa ngoài dạ con dẫn đến không có khả năng có con tự nhiên nên vợ chồng hay xích mích, cãi vã lần nhau, bất đồng quan điểm sống. Mặt khác, anh S thường xuyên tụ tập bạn bè, uống rượu và hay đi chơi với những đối tượng nghiện hút, không tập trung làm ăn, chị Th khuyên bảo thì anh S và chị Th lại xảy ra cãi chửi nhau, dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 8 năm 2022 chị Th đã chuyển về gia đình bố mẹ đẻ ở xã Th, huyện Ba Bể sinh sống và vợ chống sống ly thân từ đó cho đến nay. Từ khi sống ly thân không ai có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu được ly hôn với anh Nông Văn S.

- Về con chung: Chị Th và anh S không có con chung.

- Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn Nông Văn S: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành lấy được bản tự khai, lời khai của bị đơn do anh S không hợp tác, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng bị đơn Nông Văn S không đến Tòa án để làm việc.

* Các tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Vợ chồng chị Nguyễn Thị Th và anh Nông Văn S có đăng ký kết hôn hợp pháp, sau khi kết hôn có nơi cư trú, sinh sống và làm ăn tại thôn P, xã M, huyện Ba Bể cho đến nay. Thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi chửi nhau, bất đồng quan điểm sống, nguyên nhân là do anh S thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu, không chăm lo làm kinh tế, đồng thời anh S hay đi chơi với những đối tượng nghiện hút. Do có nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân, chị Th chuyển về ở xã Th, huyện Ba Bể sinh sống cùng bố đẻ từ tháng 8 năm 2022 cho đến nay.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh S nhiều lần đề làm việc nhưng anh S không có mặt, phiên tòa đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Nông Văn S vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án.

* Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự không bị hạn chế quyền tham gia tố tụng và thực hiện đúng quy định pháp luật về tố tụng. Bị đơn vắng mặt nên không tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

* Về yêu cầu khởi kiện của đương sự và đường lối giải quyết vụ án.

- Về quan hệ hôn nhân: Theo tài liệu và ý kiến của nguyên đơn thấy, chị Nguyễn Thị Th và anh Nông Văn S có kết hôn hợp pháp, quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, hay cãi chửi nhau dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 8 năm 2022 cho đến nay. Chị Th xác định vợ chồng không còn tình cảm, bất đồng quan điểm sống, đã sống ly thân nên theo quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì không đảm bảo được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Th xin ly hôn với anh Nông Văn S là có căn cứ.

- Về con chung: Chị Th và anh S không có con chung.

- Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đề nghị căn cứ khoản 1, Điều 28; khoản 1, Điều 35; khoản 1, Điều 39; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Th, chị Th được ly hôn với anh Nông Văn S.

* Về con chung: Không có.

* Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình vợ chồng có đăng ký kết hôn hợp pháp. Căn cứ vào Điều 28; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Bị đơn Nông Văn S không hợp tác và được Tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhưng anh S không có mặt, chị Th không yêu cầu hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Điều 207/BLTTDS. Tuy nhiên, vẫn tiến hành phiên họp kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ theo quy định tại Điều 208/BLTTDS.

Tại phiên tòa, bị đơn Nông Văn S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nông Văn S kết hôn với nhau trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện và được tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Mg, huyện Ba Bể vào ngày 16/4/2014. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị Th khó có khả năng sinh con, anh S thường xuyên ham chơi hay tụ tập bạn bè, uống rượu, không tập trung làm ăn, dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cãi chửi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2022 cho đến nay. Từ khi sống ly thân không ai có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, mỗi người sống một nơi, tự làm tự lo cuộc sống riêng. Chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T yêu cầu được ly hôn với anh Nông Văn S.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ lời khai của chị Th và các tài liệu chứng cứ xác minh tại địa phương thấy quan hệ hôn nhân của chị Th và anh S là đúng thực tế, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, cãi, chửi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2022 đến nay, mỗi người một nơi, kinh tế tự làm ăn riêng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh S không hợp tác để trình bày ý kiến, quan điểm, chị Th yêu cầu xin ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.

. Về con chung: Chị Th và anh S không có con chung.

Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th, chị Th được ly hôn với anh Nông Văn S.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001175 ngày 17/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Xác nhận chị Th đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành bản án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ