vanban.org

Bản án 07/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L.

Về việc nuôi con: Anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L có ba con chung là Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 18/9/1992; Nguyễn Phương Nh và Nguyễn Phương Th sinh đôi ngày 15/5/1995, các con đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về việc chia tài sản: Anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29-3-2023
V/v tranh chấp không công nhận
quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bấm

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng G; nơi cư trú: Số 10 CT3 A8 phường V, quận N, thành phố H; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Mai Thị L; nơi ĐKTT: Số 4 tổ đường 5/2, phường Q, quân H, thành phố H; nơi tạm trú: Số 1A/129 đường L, phường V, quận N, thành phố H; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 02/02/2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng G trình bày:

Năm 1990, anh và chị Mai Thị L chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện nhưng do không hiểu biết pháp luật nên không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Chính vì vậy, từ năm 2006 đến nay anh chị đã sống ly thân, không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế. Nay anh xác định tình cảm giữa anh và chị L không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vì vậy đề nghị Toà án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị Mai Thị L.

- Về con chung: Anh xác nhận anh và chị Mai Thị L có ba con chung là Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 18/9/1992; Nguyễn Phương Nh và Nguyễn Phương Th sinh đôi ngày 15/5/1995. Các con đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết, bị đơn là chị Mai Thị L trình bày:

Năm 1990, chị và anh Nguyễn Hoàng G chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, gia đình có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, nhưng do không hiểu biết pháp luật nên chị và anh G không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Từ năm 2006 đến nay anh chị đã sống riêng, không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế. Nay chị L xác định tình cảm giữa chị và anh G không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, đề nghị Toà án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Hoàng G.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Hoàng G có ba con chung là Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 18/9/1992; Nguyễn Phương Nh và Nguyễn Phương Th sinh đôi ngày 15/5/1995. Các con đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị và anh Nguyễn Hoàng G không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng G và bị đơn chị Mai Thị L đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai của anh G và chị L, nội dung vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 8 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Mai Thị L cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:

Nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng G và bị đơn chị Mai Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là bảo đảm đúng các quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1990 trên cơ sở tự nguyện nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định thì không có giá trị pháp lý”. Vì vậy, quan hệ giữa anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Quá trình chung sống, anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm lối sống, không có tiếng nói chung và cũng từ năm 2006 đến nay hai người đã sống ly thân, không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế. Xét mâu thuẫn giữa anh G và chị L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình.

+ Về việc nuôi con:

Anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L có ba con chung là Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 18/9/1992; Nguyễn Phương Nh và Nguyễn Phương Th sinh đôi ngày 15/5/1995. Con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về việc chia tài sản:

Anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Anh Nguyễn Hoàng G phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, c khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14. Xử:

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L.

2. Về việc nuôi con: Anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L có ba con chung là Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 18/9/1992; Nguyễn Phương Nh và Nguyễn Phương Th sinh đôi ngày 15/5/1995, các con đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về việc chia tài sản: Anh Nguyễn Hoàng G và chị Mai Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Hoàng G phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006805 ngày 16 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Hoàng G nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng G và bị đơn chị Mai Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ