- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bùi Thị Loan và chị Vũ Thị Hồng Ngát"
- Tòa quyết gì? Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu phường;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/DS-ST Ngày 30/01/2023 (V/v Tranh chấp nợ hụi) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Hoàng và ông Lê Văn Lil
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Khoa, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 342/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp nợ hụi”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2022/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1979
Địa chỉ: ấp Long H, xã Điền H, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.
2/. Bị đơn: Chị Vũ Thị Hồng Ng, sinh năm 1976
Anh Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1974
Địa chỉ: ấp Thuận Đ, xã Long Điền T, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu
(Chị L có đơn vắng mặt, chị Ng, anh Tr vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 14/9/2022 và trong quá trình tố tụng chị Bùi Thị L trình bày: Trước đây chị có tham gia hụi do chị Ng làm chủ hụi, cụ thể:
Hụi 1.000.000 đồng khui ngày 09/6/2017 âm lịch, chị tham gia 01 chưng, chị Ng còn nợ là 29.000.000 đồng. Trong quá trình hòa giải chị Ng thừa nhận còn nợ chị số tiền 28.400.000 đồng thì chị cũng thống nhất nên chị rút lại số tiền 600.000 đồng.
Ngoài ra, chị Ng có tham gia hụi do chị làm chủ hụi, loại hụi 2.000.000 đồng khui vào ngày 28/8/2016 âm lịch, chị Ng tham gia 01 chưng tính đến hụi mãn thì chị Ng còn nợ chị 18.000.000 đồng. Tổng số tiền hụi chị Ng và anh Tr nợ là 46.400.000 đồng. Khi giao dịch hụi hai bên đều có sổ sách theo dõi. Đến năm 2019 thì chị Ng tuyên bố bể hụi. Chị là người trực tiếp giao dịch hụi với chị Ng.
Nay chị khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị Ng phải trả số tiền hụi còn thiếu là 46.400.000 đồng. Ngoài ra không có ý kiến gì khác.
Tại biên bản ghi lời khai của chị Vũ Thị Hồng Ng trình bày: Chị Bùi Thị L có tham gia hụi do chị làm chủ hụi, cụ thể hụi 1.000.000 đồng, chị L tham gia 01 chưng, sau khi hụi bể thì chị còn nợ chị L số tiền 28.400.000 đồng.
Ngoài ra chị có tham gia 01 chưng hụi do chị L làm chủ, loại hụi 2.000.000 đồng, sau khi hốt xong tính đến hụi mãn thì chị còn nợ chị L số tiền 18.000.000 đồng. Tổng cộng chị nợ tiền hụi của chị L là 46.400.000 đồng.
Nay chị L khởi kiện yêu cầu vợ chồng chị trả tiền hụi là 46.400.000 đồng thì chị cũng thống nhất và đồng ý trả cho chị L số tiền trên.
Tại biên bản ghi lời khai của anh Nguyễn Thành Tr trình bày: Anh là chồng của chị Vũ Thị Hồng Ng, anh biết vợ anh làm chủ hụi nhưng hụi cụ thể bao nhiêu chưng, ai là người tham gia thì anh hoàn toàn không biết. Nay chị L khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh cùng trả nợ thì anh không đồng ý trả vì anh không liên quan gì đến giao dịch hụi giữa vợ anh và chị L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung vụ án: Xét thấy giao dịch hụi giữa chị L và chị Ng là hoàn toàn xảy ra trên thực tế. Chị L khởi kiện yêu cầu chị Ng và anh Tr giao trả số tiền hụi là 47.000.000 đồng nhưng chị L rút lại một phần khởi kiện với số tiền 600.000 đồng, chỉ yêu cầu trả số tiền 46.400.000 đồng, quá trình làm việc chị Ng cũng thừa nhận có nợ tiền hụi của chị L nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L. Do nợ trong thời kỳ hôn nhân nên cần buộc vợ chồng chị Ng và anh Tr cùng có trách nhiệm trả nợ hụi cho chị L là 46.400.000 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch chị Ng và anh Tr phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị L khởi kiện tranh chấp nợ hụi, bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện Đ H. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ H.
Chị Bùi Thị L có đơn yêu cầu được vắng mặt. Chị Vũ Thị Hồng Ng và anh Nguyễn Thành Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
Căn cứ vào các tài liệu được thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Chị L và chị Ng có giao dịch hụi với nhau là hoàn toàn xảy ra trên thực tế. Tại đơn khởi kiện chị L yêu cầu chị Ng và anh Tr trả số tiền 47.000.000 đồng, trong quá trình làm việc và hòa giải thì chị L rút một phần yêu cầu với số tiền 600.000 đồng, chỉ yêu cầu chị Ng và anh Tr trả số tiền hụi là 46.400.000 đồng. Chị Ng cũng thừa nhận có nợ tiền hụi của chị L và đồng ý trả nên căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử công nhận đây là sự thật không cần phải chứng minh. Anh Tr xác định không liên quan đến giao dịch hụi với chị L nhưng đây là nợ chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nên cần buộc chị Ng và anh Tr cùng trả. Chị L khởi kiện yêu cầu chị Ng và anh Tr cùng trả nợ là hoàn toàn có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Chị Ng và anh Tr có nghĩa vụ nộp số tiền: 46.400.000 đồng x 5%= 2.320.000 đồng. Hoàn lại cho chị L tiền tạm ứng án phí 1.175.000 đồng theo biên lai thu số 0009618 ngày 09/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.
Quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu phường;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1/. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị L đối với chị Vũ Thị Hồng Ng, anh Nguyễn Thành Tr về tranh chấp nợ hụi.
Buộc chị Vũ Thị Hồng Ng và anh Nguyễn Thành Tr có nghĩa vụ trả cho chị Bùi Thị L số tiền hụi là 46.400.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).
2/. Đình chỉ xét xử yêu cầu của chị Bùi Thị L đối với chị Vũ Thị Hồng Ng và anh Nguyễn Thành Tr đối với số tiền 600.000 đồng.
3/. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc chị Vũ Thị Hồng Ng và anh Nguyễn Thành Tr phải nộp 2.320.000 đồng. Hoàn lại cho chị Bùi Thị L tiền tạm ứng án phí 1.175.000 đồng theo biên lai thu số 0009618 ngày 09/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Đ H - Chi cục THADS huyện Đ H - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | Thạch Thị Ngọc Bích |