vanban.org

Bản án 07/2023/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Long đối với ông Nguyễn Văn Thành, anh Nguyễn Văn Đô và chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên về việc “thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.

Buộc ông Nguyễn Văn Thành, anh Nguyễn Văn Đô và chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Long số tiền 728.800.000 (bảy trăm hai mươi tám triệu tám trăm nghìn) đồng trong phạm vi di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh Tuyền để lại. Ghi nhận ông Long không yêu cầu tính lãi. Kể từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "long- thành"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Long đối với ông Nguyễn Văn Thành, anh Nguyễn Văn Đô và chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên về việc “thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2023/DS-ST
Ngày: 17-5-2023
V/v “ Thực hiện nghĩa vụ tài sản
do người chết để lại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Oanh Kiều

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Chí Tâm;

Bà Trần Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2022 về “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Long, sinh năm 1988; cư trú tại: ấp Voi Đình, xã Thủy Đông, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn Long: ông Quảng Đức Toại, sinh năm 1978; cư trú tại: 411/23 kênh Tân Hóa, phường Hòa Thạnh, Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 16/11/2022).

Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1973;

Chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên, sinh năm 1995;

Anh Nguyễn Văn Đô, sinh năm 2003;

Cùng cư trú tại: ấp Gò Đá, xã Mỏ Công, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 07/11/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Long và đại diện hợp pháp của ông Long trình bày:

Anh Nguyễn Văn Long và bà Trần Thị Thanh Tuyền có làm ăn, mua bán các loại lúa, cụ thể:

Ngày 18/5/2022, bà Tuyền có nhận của ông Nguyễn Văn Long 139 bao lúa giống ÔM, mỗi bao 40kg, giá 12.200đ/kg và 336 bao lúa giống 545, mỗi bao lúa 40kg, giá 12.200 đ/kg, tổng cộng là 231.800.000 đồng. Bà Tuyền có viết giấy và ký tên nhận lúa.

Ngày 25/9/2022, ông Long có đặt mua của bà Tuyền 500 tấn lúa, giá 6.100đ/kg, đã đặt cọc cho bà Tuyền 558.000.000 đồng. Khi đặt cọc các bên có làm giấy tay, bà Tuyền có ký nhận vào Giấy nhận tiền cọc ngày 25/9/2022.

Tổng số tiền bà Tuyền nợ ông Long 789.800.000 đồng. Sau khi biết bà Tuyền chết, ông Long đã thu hồi về 125 bao lúa giống 545 tương đương 61.000.000 đồng. nên bà Tuyền chỉ còn nợ ông 728.800.000 đồng.

Nay bà Tuyền chết đột ngột, vẫn chưa trả tiền và giao lúa cho ông như thỏa thuận. Nên ông Long yêu cầu bị đơn là ông Thành, anh Nguyễn Văn Đô và chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên là chồng và các con của bà Tuyền thực hiện nghĩa vụ tài sản của bà Tuyền khi còn sống, trả cho ông Long số tiền nợ 728.800.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn – ông Nguyễn Văn Thành trình bày:

Ông là chồng của bà Trần Thị Thanh Tuyền. Vợ ông tự liên lạc đứng ra giao dịch mua bán với khách hàng, ông và các con hoàn toàn không biết về việc làm ăn của bà Tuyền. Ông thừa nhận chữ ký và viết họ tên Trần Thị Thanh Tuyền trong giấy tay nhận lúa ngày 18/5/2022 và giấy tay ngày 25/9/2022 nội dung nhận tiền cọc là của bà Tuyền. Ông không có chứng cứ gì cung cấp cho tòa án do vợ ông chết đột ngột không để lại thông tin gì về việc mua bán làm ăn của bà.

Đối với các khoản nợ nguyên đơn trình bày ông hoàn toàn không biết và không có khả năng trả nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

Bị đơn - chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên trình bày:

Việc làm ăn do mẹ của chị là bà Tuyền trực tiếp làm, chị có gia đình riêng, không biết gì về việc làm ăn của bà Tuyền. Chị không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do hiện không có khả năng trả số tiền nợ này.

Bị đơn – anh Nguyễn Văn Đô trình bày:

Anh thống nhất ý kiến với ba và chị gái anh. Anh không biết gì về số tiền nợ này, do mẹ anh làm ăn một mình, không còn để lại giấy tờ gì nên anh không đồng ý với số tiền nợ ông Long yêu cầu.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung vụ án: từ diễn biến tại phiên tòa, cũng như trên cơ sở lời khai của các bên đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ Điều 24, Điều 27, Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 117, Điều 430, Điều 440, Điều 613, Điều 615, Điều 651 của Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Long, buộc ông Nguyễn Văn Thành, chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên, anh Nguyễn Văn Đô có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Long số tiền bà Tuyền (đã chết) mua bán lúa còn nợ 728.800.000 đồng. Ghi nhận ông Long không yêu cầu tính lãi.

Về án phí: ông Nguyễn Văn Thành, chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên, anh Nguyễn Văn Đô phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng

1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: ông Thành và bà Tuyền là vợ chồng hợp pháp, có 02 con chung là Nguyễn Văn Đô và Nguyễn Thị Ngọc Quyên. Ngày 03/11/2023, bà Tuyền chết. Tại đơn khởi kiện ngày 07/11/2022 và các lời khai của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, thể hiện nguyên đơn chỉ yêu cầu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Tuyền là ông Thành, anh Đô, chị Quyên có nghĩa vụ trả nợ thay bà Tuyền. Căn cứ Điều 5, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự và giới hạn của việc xét xử, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo quy định tại Điều 615 của Bộ luật Dân sự không phải “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và đặt cọc” theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

1.2 Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: ông Toại, ông Thành, anh Đô và chị Quyên vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của anh Long yêu cầu ông Thành, anh Đô, chị Quyên có nghĩa vụ trả số tiền 728.800.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Lúc còn sống bà Tuyền có nhận tiền đặt cọc mua lúa và nhận lúa giống của ông Long, có viết và ký tên vào các giấy tay nhận tiền cọc và nhận lúa. Ông Thành, anh Đô, chị Quyên cũng thừa nhận chữ ký, chữ viết trong các Giấy tay nhận tiền cọc ngày 25/9/2022 và Giấy tay nhận lúa ngày 18/5/2022 là của bà Tuyền. Ông Thành, anh Đô và chị Quyên không đồng ý trả nợ nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh đã trả xong số tiền trên. Do đó, có đủ cơ sở xác định bà Tuyền còn nợ ông Long 728.800.000 đồng. Ông Long thừa nhận sau khi bà Tuyền chết, anh Long có thu hồi được lúa giống loại 545 số lượng 125 bao, tương đương với số tiền 61.000.000 đồng. Bà Tuyền chỉ còn nợ lại ông Long số tiền 789.800.000 đồng

- 61.000.000 đồng = 728.800.000 đồng.

Tại biên bản xác minh (bút lục 47) thể hiện hàng thừa kế thứ nhất của bà Tuyền theo quy định tại Điều 651 của Bộ luật Dân sự gồm: mẹ ruột là bà Dương Thị Kim Hoa, sinh năm 1958, đã chết năm 2003; ba ruột là ông Trần Văn Mến, sinh năm 1955, đã chết năm 2010; chồng là ông Nguyễn Văn Thành và 02 người con là Nguyễn Văn Đô và Nguyễn Thị Ngọc Quyên. Nên ông Long yêu cầu những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà Tuyền là ông Thành, anh Đô và chị Quyên có trách nhiệm trả số tiền trên là có căn cứ.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, căn cứ Điều 328, Điều 430, Điều 615, Điều 651 của Bộ luật Dân sự, cần buộc ông Thành, anh Đô và chị Quyên có nghĩa vụ trả cho ông Long số tiền 728.800.000 đồng trong phạm vi di sản thừa kế của bà Tuyền để lại, ghi nhận ông Long không yêu cầu tính lãi. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Biên là không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí: căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Ông Thành, anh Đô và chị Quyên phải chịu 33.152.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong phạm vi di sản thừa kế của bà Tuyền để lại.

- Ông Long không phải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 328, Điều 430, Điều 615, Điều 651 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Long đối với ông Nguyễn Văn Thành, anh Nguyễn Văn Đô và chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên về việc “thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.

Buộc ông Nguyễn Văn Thành, anh Nguyễn Văn Đô và chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Long số tiền 728.800.000 (bảy trăm hai mươi tám triệu tám trăm nghìn) đồng trong phạm vi di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh Tuyền để lại. Ghi nhận ông Long không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày ông Nguyễn Văn Long có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn Thành, anh Nguyễn Văn Đô và chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng ông Thành, anh Đô và chị Quyên còn phải trả cho ông Long tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự trong phạm vi di sản thừa kế của bà Tuyền để lại.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Văn Thành, anh Nguyễn Văn Đô và chị Nguyễn Thị Ngọc Quyên phải chịu 33.152.000 (ba mươi ba triệu một trăm năm mươi hai nghìn) đồng trong phạm vi di sản thừa kế của bà Trần Thị Thanh Tuyền để lại.

Ông Nguyễn Văn Long không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Long số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 17.796.000 đồng (mười bảy triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0004143 ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ này nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ