- Tranh chấp gì? án dân sự — "Lan Sanh"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thu L là chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh 2.
- Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:07/2023/DS-ST Ngày: 07/02/2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Dương Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Hồng Thảo
Bà Đào Đắc Cẩm Tú
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài– Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 175/2022/TLST-DS, ngày 21 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2022/QĐXXST-DS, ngày 12/12/2022: Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST –DS, ngày 13/01/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu L– Chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh 2. ( Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1952.( Có mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/10/2022 nguyên đơn bà Lê Thị Thu L trình bày:
Nguyên vào 12/8/2020 ông Nguyễn Văn S và ông Võ Văn Ý là chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh 2 có thỏa thuận mua bán thức ăn nuôi tôm và thuốc thủy sản với nhau ( hiện nay đã đổi sang bà Lê Thị Thu L là chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh 2). Quá trình nhận hàng thì hai bên sẽ ghi vào sổ của mỗi bên, có làm hợp đồng mua bán. Tại bảng theo dõi công nợ khách hàng thì ông S thống nhất còn nợ bà L số tiền là 65.407.000 đồng chưa thanh toán. Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông S phải thanh toán số tiền 65.407.000 đồng không tính lãi. Ngoài ra khi mua thức ăn tôm thì ông S có đưa cho bà L giữ 01 giấy chứng nhận QSDĐ do ông S đứng tên để làm tin.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày: Nguyên trước đây ông có mua thức ăn tôm của ông Ý như bà L trình bày. Nay ông thừa nhận còn nợ bà L số tiền 65.407.000đồng nhưng do hiện nay ông không có khả năng thanh toán nên ông thống nhất giao cho bà L phần diện tích đất trong giấy chứng nhận QSDĐ mà bà L giữ để trừ nợ. Ngoài ra ông S yêu cầu khi nào ông thanh toán hết nợ cho bà L xong thì bà L phải hoàn trả lại cho ông 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông mà hiện bà L đang giữ.
* Tại phiên toà kiểm sát viên phát biểu về đường lối giải quyết vụ án là đề nghị HĐXX Xử buộc ông Nguyễn Văn S phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Lê Thị Thu L là chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh 2 số tiền còn nợ là 65.407.000đồng. Đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Do nguyên đơn bà L có đơn yêu cầu xin xét xử vắng. Vì vậy áp dụng khoản 1 Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt bà L theo quy định pháp luật.
Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ mua thức ăn tôm vốn là 65.407.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền còn nợ là 65.407.000đồng và có cung cấp chứng cứ cho Tòa án là Hợp đồng mua bán và sổ sách ghi lại việc mua bán, giao hàng, bảng đối chiếu xác nhận công nợ lập ngày 29/11/2021 các chứng cứ này có chữ ký của ông S, tại phiên tòa ông S cũng thừa nhận còn nợ bà L số tiền trên. Căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử công nhận đây là sự thật.
HĐXX xét thấy bị đơn đã mua thức ăn nuôi tôm của nguyên đơn nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, như đã phân tích ở trên bị đơn đã vi phạm hợp đồng mua bán tài sản đối với nguyên đơn, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn vì vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ còn thiếu là 65.407.000đ đồng là có căn cứ để chấp nhận. Đối với phần lãi suất do nguyên đơn không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Đối với yêu cầu của bị đơn yêu cầu nguyên đơn hoàn trả lại 01 giấy chứng nhận QSDĐ của bị đơn mà nguyên đơn đang giữ, HĐXX xét thấy:
Khi mua thức ăn nuôi tôm của bà L thì ông S có giao cho bà L giữ 01 giấy chứng nhận QSDĐ của ông S để làm tin. Vì vậy sau khi ông S thanh toán nợ xong cho bà L thì bà L phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông S 01 bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ số CU 059881 do UBND huyện Mỹ Xuyên cấp cho ông Nguyễn Văn S ngày 20/7/2020, diện tích 1.448,5m2 mà hiện nay bà L đang quản lý thì mới đúng quy định của pháp luật.
Từ những phân tích ở trên HĐXX cần xử buộc ông Nguyễn Văn S phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Lê Thị Thu L là chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh 2 số tiền còn nợ là 65.407.000đ đồng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ, Khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội thì do bị đơn ông S là người cao tuổi, đã có đơn xin miễn án phí, do đó thuộc trường hợp không phải đóng tiền tạm ứng án phí và được miễn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí vậy được trả lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí theo quy định.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã nêu là có căn cứ và phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát đã nêu.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280, của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Điều 280, Điều 430, Điều 440, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thu L là chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh 2.
1/. Xử buộc ông Nguyễn Văn S phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Lê Thị Thu L là chủ hộ kinh doanh Tân Quang Minh 2 số tiền còn nợ là 65.407.000đồng ( Sáu mươi lăm triệu bốn trăm lẽ bảy ngàn đồng).
- Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà L có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông S còn phải trả lãi cho bà L theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Buộc bà Lê Thị Thu L phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Văn S 01 bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ số CU 059881 do UBND huyện Mỹ Xuyên cấp cho ông Nguyễn Văn S ngày 20/7/2020, diện tích 1.448,5m2 mà hiện nay bà L đang quản lý.
2/ Án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn không phải chịu án phí và được hoàn trả lại các số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.635.000đ, theo biên lại thu số 0005602, ngày 18/11/2022 cuûa Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn ông S được miễn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Xuyên; - Chi cục THADS huyện MX; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Mai Thị Dương Hải |