- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Sửu và Nguyễn Huy Chức"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Sửu, cho chị Trần Thị Sửu được ly hôn anh Nguyễn Huy Chức.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Dân sự; Điều 148 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09/5/2023 V/v:“Xin ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q , TỈNH T
Với thành phầnh hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thanh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Vi Ngọc Trung
2. Ông: Phạm Văn Hùng
Thư ký toà án ghi biên bản: Ông Nguyễn Trọng Tiến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh T
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Trường - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q , tỉnh T Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 22/2023/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2023 về việc xin ly hôn và tranh chấp nuôi con chung, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXX-ST ngày 14 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Sửu, sinh năm 1984
- Bị đơn: Anh Nguyễn Huy Chức, sinh năm 1978.
Đều đăng ký HKTT tại: Bản Ch , xã Th , huyện Q , tỉnh Th .
Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/3/2023, bản tự khai, biên bản hòa giải, các tài liệu, chứng cứ thu thập đƣợc có trong hồ sơ vụ án cũng nhƣ tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Sửu tình bày:
* Về hôn nhân: Chị Sửu và anh Chức tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc, tự nguyện đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán truyền thống năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T , huyện Q , tỉnh Th vào ngày 16 tháng 4 năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại bản C , xã Th , huyện Q , chị bán hàng tạp hóa, anh Chức làm nghề sửa chữa xe máy, sống hạnh phúc, hòa thuận được một thời gian, có với nhau một con chung. Cũng trong thơi gian chung sống, năm 2008 anh Chức bị Tòa án nhân dân huyện Krông Păck, tỉnh Đăk Lăk phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” đi chấp hành án ở tỉnh Đăk Lăk, khi đó con mới được 06 tháng tuổi, chị phải một mình nuôi con, năm 2009 anh Chức mãn hạn tù trở về. Với bản tính hung hãn, khoảng tháng 10/2016, anh Chức đánh nhau gây thương tích cho người cùng bản, đến khoảng tháng 5/2017 anh bị Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa xét xử 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng, trong thời gian 04 năm chấp hành án anh Chức không chịu làm lụng mà chỉ say mê nghiên cứu máy phát điện và đi chơi bài, chơi bi a ăn tiền, một mình tôi làm lụng nuôi con, nuôi chồng, vợ chồng bắt đầu có mâu thuẫn nhưng vì nghĩ cho con nên chúng tôi vẫn sống với nhau. Chấp hành xong án treo, vào khoảng tháng 02 năm 2022, anh Chức không chịu làm lụng mà đòi đi vào nam làm kinh tế, tôi không đồng ý cho đi, gia đình nội, ngoại cũng khuyên anh ở lại nhưng anh ấy dọa, không cho đi sẽ đốt nhà nên tôi không ngăn cản được.
Cũng tại thời điểm này thì mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng hơn, nguyên nhân mâu thuẫn là do quan niệm sống của hai vợ chồng khác nhau, không đồng thuận trong công việc, từ đó anh, chị xác định kinh tế độc lập, ai làm người ấy hưởng, không ai liên quan đến ai, con thì ở với chị, anh Chức đưa ra điều kiện là mỗi năm phải cho con vào thăm anh một lần vào dịp nghỉ hè, tháng 6/2022 chị cho con vào ở với anh Chức theo yêu cầu của anh, đầu tháng 8/2022 cháu về để chuẩn bị đi học. Trước khi đi vào Nam anh Chức thanh lý toàn bộ phụ tùng sửa xe máy và lấy thêm tiền, chúng tôi đã thống nhất chia tài sản, xác định lần đó là chúng tôi ly thân và xác định anh không quay về nữa, chỉ chờ ra Tòa án ly hôn.
Từ khi sống ly thân, bản thân tôi xét thấy không còn tình cảm vợ chồng nên nguyện vọng của tôi là muốn được ly hôn, tôi nộp đơn xin ly hôn và yêu cầu anh Chức về Tòa án làm thủ tục ly hôn, tháng 3/2023 anh Chức về thì nói không đồng ý ly hôn, cũng từ khi anh Chức về anh Chức hay ghen tuông vô cớ, phá phách đồ dùng trong nhà, đóng cửa quán không cho tôi bán hàng làm cho tôi mất thu nhập, tôi thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mặc dù gia đình nội, ngoại, bạn bè cũng đã khuyên ngăn nhưng vẫn không cải thiện được. Để bảo đảm an toàn đến tính mạng, sức khoẻ của chị và con nên nguyện vọng của chị là được ly hôn với anh Chức.
* Về con chung: Anh và chị có 01 con chung là: Nguyễn Huy Hoàng Hải, sinh ngày 02/01/2007. Nguyện vọng của cháu muốn ở với mẹ, chị Sửu trình bày, do anh Chức có nhân thân xấu, bản thân anh là người không biết kiềm chế nên chị muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dạy con cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Chị làm nghề buôn bán hàng tạp hóa đã gần 20 năm, có thu nhập đều mỗi tháng 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) và có khả năng chăm sóc, nuôi dạy con, được chính quyền địa phương xác nhận nên chị không yêu cầu anh Chức đóng góp nuôi con.
* Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/3/2023, biên bản hòa giải, các tài liệu, chứng cứ thu thập đƣợc và tại phiên tòa anh Nguyễn Huy Chức trình bày:
* Về Hôn nhân: Thời gian và điều kiện kết hôn, những lỗi lầm của anh, mâu thuẫn gia đình như chị Sửu trình bày là đúng. Trong thời gian 04 năm chấp hành thời gian thử thách của án treo, anh có nghiên cứu để chế tạo máy phát điện nên anh tập trung vào nghiên cứu, không có thời gian làm việc khác và chăm lo cho gia đình. Chấp hành xong thời gian thử thách của án treo, vào khoảng tháng 02 năm 2022 anh vào Miền nam làm ăn, do tập trung nghiên cứu chế tạo máy phát điện, đến thời điểm này là giai đoạn cuối nhưng thời gian anh về ngoài này thì đang bỏ dở, anh có niềm tin là công trình nghiên cứu của anh sẽ thành công, sẽ mang lợi ích kinh tế về cho gia đình, vợ và con, vì việc này cần có thời gian nên anh đã không quan tâm đến công việc gia đình. Đầu tháng 3/2023 anh về mục đích đoàn tụ gia đình, bản thân anh còn tình cảm vợ chồng với chị Sửu và anh không muốn ly hôn. Mâu thuẫn của vợ chồng anh trầm trọng hơn xảy ra từ khi anh đi Miền nam làm ăn, sinh sống, nguyên nhân là do chị Sửu không thông cảm cho anh, chị Sửu nghe tác động những người bên ngoài và không có niềm tin vào anh, mâu thuẫn cũng đã được gia đình bên ngoại và bạn bè hòa giải nhưng không có kết quả. Tại phiên Tòa anh trình bày, bản thân anh qua những ngày anh về sinh sống tại nhà ở bản Chong, xã Thiên Phủ, huyện Quan Hóa thì anh nhận thấy chị Sửu chỉ lo cúng bái, lên đồng, không phù hợp với hoàn cảnh gia đình anh nên anh đã dở bỏ bàn thờ, bát hương, từ đó anh nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với chị Sửu nên anh đồng ý ly hôn.
* Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là: Nguyễn Huy Hoàng Hải. Nay anh chị ly hôn nguyện vọng của anh là muốn được trực tiếp nuôi cháu, thời gian tới anh sẽ khôi phục nghề sửa xe máy để có thu nhập oone định, có tiền nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con, anh nghĩ là trách nhiệm của hai vợ chồng nên anh đề nghị Tòa án giải quyết chia mỗi người 50% tính theo thực tế tiền chi phí nuôi con ăn, học hết THPT và đại học để con có hành trang lo cho cuộc sống riêng của con và yêu cầu chị Sửu phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh.
* Về tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, tại phiên tòa, anh yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ, chồng nhưng không đưa ra được căn cứ để chứng minh phần tài sản của vợ chồng, HĐXX thấy, giành quyền cho anh Chức khởi kiện việc chia tài sản chung của vợ, chồng ở vụ án khác.
Toà án đã tiến hành xác minh tại bản Chong, xã Thiên Phủ, huyện Quan Hóa về nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp giữa chị Trần Thị Sửu và anh Nguyễn Huy Chức; về điều kiện nuôi con của chị Sửu, anh Chức, kết quả xác minh: Về nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp: Giữa chị Sửu, anh Chức bất đồng quan điểm về cách cư xử trong gia đình, nuôi dậy con cái và trong cách làm ăn, nhưng nguyên nhân chính là do chồng thiếu sự tin tưởng về lòng chung thuỷ của vợ, hay nghi kỵ, ghen tuông vô cớ, dẫn đến vợ chồng cãi vã, anh Chức xúc phạm chị Sửu. Về điều kiện nuôi con: Kể từ khi chị Sửu và anh Chức ly thân đến nay, chị Sửu cư trú tại bản Chong, xã Thiên Phủ, huyện Quan Hóa, còn anh Chức đang đi làm ăn xa từ đầu năm 2022, đến đầu tháng 3/2023 mới về nhà. Ngoài ra trong thời gian năm 2008 anh Chức đi chấp hành án trong Đăk Lăk, rồi chấp hành án treo không thấy anh Chức làm gì. Phần lớn thời gian cháu Hải ở cùng chị Sửu, cháu vẫn khoẻ mạnh và được học hành đầy đủ; nơi chị Sửu cư trú có điều kiện về việc học tập, việc chăm sóc ý tế và môi trường xã hội tốt; chị Sửu có điều kiện để chăm sóc cháu Hải tốt hơn anh Chức.
Tại phiên toà, Đại diện VKS phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Chị Trần Thị Sửu khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Huy Chức là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Q có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.
. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự luôn chấp hành theo triệu tập của Tòa án và thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định các điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, các đương sự đều có mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử theo quy định.
. Về nội dung:
3.1. Về hôn nhân: Xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Sửu và anh Nguyễn Duy Chức là hôn nhân hợp pháp. Bởi lẽ anh chị tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày ngày 16 tháng 4 năm 2010 tại Uỷ ban nhân dân xã Th , huyện Q , tỉnh T và thực hiện đầy đủ thủ tục kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc chỉ được một thời gian thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn mỗi người nêu ra một nguyên nhân khác nhau, nhưng cả anh Chức và chị Sửu đều thừa nhận mâu thuẫn của vợ chồng cũng đã đựơc gia đình, chính quyền địa Phương hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Theo chị Sửu thì anh chức thường xuyên vi phạm pháp luật, đã bị xét xử 02 lần về tội cố ý gây thương tích, không chịu làm lụng, hay ghen tuông vô cớ chửi bới chị và không có trách nhiệm với vợ con, vợ chồng không tin tưởng nhau nên thường xuyên xảy ra va chạm nên chị xin ly hôn. Còn anh Chức lại cho r ng do chị Sửu không chịu hiểu và thông cảm cho chồng mà nghe lời người ngoài đàm tíu nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và chị không còn quan tâm chăm sóc đến anh, ai lo phận người đó, anh chấp nhận ly hôn.
Xét nguyện vọng của các đương sự tại phiên tòa hôm nay, HĐXX thấy r ng: Chị Sửu và anh Chức đều có nguyện vọng xin ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mâu thuẫn vợ chồng đã gay gắt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân Gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Sửu.
3.2. Về con chung: Hai bên đương sự thống nhất vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Huy Hoàng Hải, sinh ngày 02/01/2007. Nay ly hôn cả chị Sửu và anh Chức đều có nguyện vọng được nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con chị Sửu không yêu cầu anh Chức cung cấp, còn anh Chức đề nghị giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con theo tỷ lệ 50% chi phí thực tế nuôi con học hết Đại học.
Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu Nguyễn Huy Hoàng Hải cháu có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố, mẹ cháu ly hôn, có xác nhận của UBND xã T , huyện Q . Trước khi mở phiên Tòa, anh Chức giao nộp cho Tòa án Bản tường trình của cháu Hải, trong đó nêu nhiều nội dung không rõ ràng và có nội dụng cháu Hải có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Sau khi xem xét bản tường trình của cháu Hải mà anh Chức cung cấp, HĐXX thấy: Nội dung bản tường trình không rõ ràng, cháu Hải là vị thành niên nhưng bản tường trình không có người giám hộ và không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nên HĐXX không chấp nhận.
Xét nguyện vọng nuôi con của chị Sửu và anh Chức đều là chính đáng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án xét thấy, trong thời gian anh Chức đi cải tạo thì cháu Hải đang còn quá nhỏ (06 tháng tuổi), mà chỉ có mình chị Sửu chăm sóc, khi anh Chức đi làm ăn xa cháu lại đang ở với chị Sửu. Mặt khác, chị Sửu có việc làm ổn định, thu nhập đảm bảo cho chị nuôi con, còn anh Chức hiện tại chưa có việc làm ổn định, không có thu nhập để đảm bảo việc nuôi con. Nguyện vọng của cháu Hải được ở với mẹ là chính đáng và có cơ sở. Do đó để ổn định cuộc sống cho cháu Hải, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Nguyễn Huy Hoàng Hải cho chị Sửu nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Theo chị Sửu anh Chức không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Chức được quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung chị Sửu không được ngăn cấm.
3.3. Về tài sản: Chị Sửu không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ttại phiên tòa, anh Chức yêu cầu Tòa án chia tài sản chung nhưng không đưa ra được căn cứ để chứng minh phần tài sản chung của vợ chồng, HĐXX thấy, giành quyền cho anh Chức khởi kiện việc chia tài sản chung của vợ, chồng ở vụ án khác.
. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay về việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và đề nghị đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Tòa án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí, quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn Trần Thị Sửu phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị; Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68; khoản 4 Điều 147 và Điều 273 BLTTDS;
Điều 147, điều 148, điều 278 và điều 372 Bộ luật dân sự.
Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56; Điều 58; Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ;
Khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27, tiểu mục 1.1 mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Sửu, cho chị Trần Thị Sửu được ly hôn anh Nguyễn Huy Chức.
- Về con chung: Giao cháu: cháu Nguyễn Huy Hoàng Hải, sinh ngày 02/01/2007 cho chị Sửu trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Hải tròn 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh Chức được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, chị Sửu không được cản trở. Trong trường hợp anh Chức lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Sửu được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Chức.
Quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có yêu cầu khác.
- Về tài sản chung: Giành quyền cho anh Chức khởi kiện việc chia tài sản chung của vợ, chồng ở vụ án khác.
- Án phí: Chị Trần Thị Sửu phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0012854 ngày 20/03/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa; Chị Sửu đã nộp đủ án phí theo biên lai nói trên.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn. Tuyên các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án 6 dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T ; - VKSND huyện Q ; - CC.THADS huyện Q ; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã T , Q ; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh |