vanban.org

Bản án 07/2022/KDTM-ST — Tranh chấp về đại diện, đại lý

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM. Buộc bà Ngô Thị H phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc 47.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ lu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về đại diện, đại lý — án kinh doanh thương mại — "Công ty CP Phát triển phụ gia và sản phẩm DM - Ngô Thị Hướng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM. Buộc bà Ngô Thị H phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc 47.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Thương mại; Điều 168 Luật Thương mại
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NĐ
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/KDTM-ST
Ngày: 22-7-2022
V/v tranh chấp hợp đồng đại lý

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NĐ, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Quang Bảo

Bà Nguyễn Phương Ly

- Thư ký phiên toà: Bà Hứa Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 03/2022/TLST-KDTM ngày 18 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp “hợp đồng đại lý” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-KDTM ngày 16 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2022/QĐST-DS ngày 06-7-2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM; địa chỉ: Khu công nghiệp tập trung vừa và nhỏ PT, huyện GL, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Trung D, chức vụ: Tổng giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức K; chức vụ: Cán bộ phòng kinh doanh. Có đơn đề nghị vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Ngô Thị H; chức vụ: Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân NH; địa chỉ: Số 465 đường ĐB, phường LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 01-12-2021 và trong quá trình tham gia tố tụng, ông Nguyễn Đức K là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn - Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM trình bày:

Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM và Doanh nghiệp tư nhân NH (người đại diện theo pháp luật là bà Ngô Thị H) ký hợp đồng đại lý hàng hóa số 105/PGDM ngày 01-12-2014 và Phụ lục hợp đồng số 01 với nội dung giao quyền cho đại lý tiêu thụ sản phẩm dầu mỏ của Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM.

Ngày 19-12-2014, Doanh nghiệp tư nhân NH đặt mua hàng của Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM qua điện thoại. Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM đã chuyển hàng theo yêu cầu của Doanh nghiệp tư nhân NH và xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 0001465 trị giá 6.329.400 đồng và 0001466 trị giá 47.692.612 đồng (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng 10%). Đồng thời, Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM xuất 01 hoá đơn giá trị gia tăng số 0001467 trị giá 2.507.090 đồng là hàng khuyến mại không thu tiền theo hoá đơn 0001465, 0001467. Doanh nghiệp tư nhân NH đã thanh toán số tiền là 6.329.400 đồng cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM bằng tiền mặt.

Ngày 31-12-2014, Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM và Doanh nghiệp tư nhân NH lập Biên bản đối chiếu công nợ như sau: Nợ đầu kỳ: 0 đồng; mua hàng trong kỳ: 54.022.012 đồng; đã thanh toán: 6.329.400 đồng; còn nợ là 47.692.612 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm mười hai đồng).

Từ sau khi đối chiếu công nợ đến nay, Doanh nghiệp tư nhân NH vẫn chưa thanh toán số tiền trên cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM. Hiện nay, Doanh nghiệp tư nhân NH không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, chủ Doanh nghiệp tư nhân NH là bà Ngô Thị H cũng đã đi khỏi địa phương, không rõ nơi đến.

Mọi giao dịch làm đại lý cũng như giao nhận hàng, thanh toán công nợ Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM chỉ làm việc với bà Ngô Thị H – chủ Doanh nghiệp tư nhân NH, không liên quan đến gia đình, chồng con bà H nên Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM yêu cầu Tòa án buộc bà Ngô Thị H – chủ Doanh nghiệp tư nhân NH phải thanh toán cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM số tiền còn nợ là 47.692.612 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm mười hai đồng) và không yêu cầu trả lãi đối với số tiền trên. Ngoài ra, Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM không còn yêu cầu khởi kiện nào khác.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố NĐ đã xác minh về tình trạng hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân NH và nơi cư trú của bà Ngô Thị H - chủ Doanh nghiệp tư nhân NH. Kết quả như sau:

Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nam Định cung cấp: Đến thời điểm hiện tại, Doanh nghiệp tư nhân NH chưa nộp hồ sơ tạm ngừng hoạt động, giải thể tới Phòng đăng ký kinh doanh. Trên hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia, Doanh nghiệp tư nhân NH ở trạng thái cảnh báo vi phạm (doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký).

Chi cục Thuế khu vực thành phố NĐ – Mỹ Lộc cung cấp: Doanh nghiệp tư nhân NH; địa chỉ trụ sở chính: Số 157 đường 21A thôn TA, xã LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định, mã số thuế: 06003800113. Trạng thái đăng ký thuế hiện tại: Doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Cơ quan Thuế đã đóng mã số thuế về trạng thái Doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký từ tháng 10-2015.

Công an phường LH, thành phố NĐ cung cấp: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1966 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số 157 đường 21A thôn TA, xã LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định (Nay là số 465 đường ĐB, phường LH, thành phố NĐ). Từ tháng 12-2016, gia đình bà H đã bán nhà cho chủ khác và đi khỏi địa phương. Từ đó đến nay không xác định được địa chỉ của bà H. Tính đến thời điểm hiện tại, bà H vẫn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên.

Tòa án nhân dân thành phố NĐ đã niêm yết các văn bản tố tụng cho bà Ngô Thị H theo quy định của pháp luật nhưng bà H không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm trình bày đối với nội dung tranh chấp có trong vụ án.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa có quan điểm:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã được đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ Điều 204 của Luật Doanh nghiệp 2014; Điều 166 và Điều 168 của Luật Thương mại năm 2005: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM. Buộc bà Ngô Thị H – chủ Doanh nghiệp tư nhân NH phải thanh toán cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM số tiền còn nợ là 47.692.612 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm mười hai đồng).

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bà Ngô Thị H phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tranh chấp được giải quyết trong vụ án:

Theo đơn khởi kiện ngày 01-12-2021 thì nguyên đơn là Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc giao kết, thực hiện “Hợp đồng đại lý” với bị đơn là bà Ngô Thị H – chủ Doanh nghiệp tư nhân NH. Nguyên đơn và bị đơn đều có đăng ký kinh doanh và việc giao kết, thực hiện hợp đồng đại lý đều nhằm mục đích lợi nhuận. Theo khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án gồm: “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận...” Do vậy tranh chấp trong vụ án được xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng đại lý.

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Theo Điều 9 của Hợp đồng đại lý số 105/PGDM ngày 01-12-2014 giữa Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM và Doanh nghiệp tư nhân NH thì tranh chấp giữa các bên sẽ được giải quyết tại Tòa án kinh tế Hà Nội. Xét thấy thỏa thuận về thẩm quyền Tòa án này không phù hợp với quy định của pháp luật nên sẽ không được áp dụng để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong vụ án. Căn cứ đơn khởi kiện của Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM và hợp đồng được ký giữa hai bên thì bị đơn là bà Ngô Thị H – chủ Doanh nghiệp tư nhân NH có địa chỉ cư trú: Số 157 đường 21A thôn TA, xã LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định (nay là số 465 đường ĐB, phường LH, thành phố NĐ). Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố NĐ, tỉnh Nam Định thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Người tham gia tố tụng:

Bị đơn là bà Ngô Thị H – chủ Doanh nghiệp tư nhân NH có địa chỉ đăng ký hộ khẩu tại: Số 157 đường 21A thôn TA, xã LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định (nay là số 465 đường ĐB, phường LH, thành phố NĐ). Từ cuối năm 2016, gia đình bà H đã bán nhà, chuyển đi nơi khác, không khai báo về địa chỉ nơi đến, không chuyển hộ khẩu. Do vậy, bà Ngô Thị H thuộc trường hợp giấu địa chỉ và Tòa án xác định nơi cư trú cuối cùng của bà H là: Số 157 đường 21A thôn TA, xã LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định (nay là số 465 đường ĐB, phường LH, thành phố NĐ). Tất cả các văn bản tố tụng đều đã được Tòa án niêm yết công khai cho bà H tại nơi cư trú cuối cùng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là bà Ngô Thị H - chủ Doanh nghiệp tư nhân NH vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp:

Về Hợp đồng đại lý hàng hóa được ký giữa Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM và Doanh nghiệp tư nhân NH:

Ngày 01-12-2014, Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM và Doanh nghiệp tư nhân NH đã ký hợp đồng đại lý hàng hóa số 105/PGDM và Phụ lục hợp đồng số 01 với nội dung giao quyền đại lý phân phối các sản phẩm dầu phanh, dầu mỡ bôi trơn các loại mang thương hiệu APP (Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM) không bao gồm dầu xe máy tại khu vực tỉnh Nam Định.

Hợp đồng được lập thành văn bản, do người đại diện của Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM và bà Ngô Thị H – chủ Doanh nghiệp tư nhân NH ký tên và đóng dấu, nội dung hợp đồng có các điều khoản quy định về giao quyền phân phối; giá cả và hình thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 385, Điều 398, Điều 401, Điều 542 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng đại lý giữa các bên là hợp pháp và có hiệu lực thực hiện.

Về việc thực hiện hợp đồng:

Theo hoá đơn giá trị gia tăng số 0001465 ngày 19-12-2014 sản phẩm là dầu DOT3 trị giá 6.329.400 đồng (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng 10%); hóa đơn giá trị tăng số 0001466 ngày 19-12-2014 sản phẩm là dầu APP Hgac TM68 và Endi TM 20 trị giá 47.692.612 đồng (đã bao gồm thuế giá trị gia tăng 10%) và hoá đơn hàng khuyến mại không thu tiền số 0001467 ngày 19-12-2014 của Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM xuất cho Doanh nghiệp tư nhân NH. Theo đó, tổng số tiền Doanh nghiệp tư nhân NH phải thanh toán là cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM số tiền 54.022.012 đồng.

Căn cứ Điều 2 Hợp đồng đại lý hàng hoá số 105/PGDM ngày 01-12-2014 quy định hình thức thanh toán: Đối với sản phẩm dầu phanh DOT3 thanh toán trước khi lấy hàng, các sản phẩm khác thời gian thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ ngày viết hoá đơn.

Vì vậy, biên bản đối chiếu công nợ từ 01-01-2014 đến 31-12-2014 giữa Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM và Doanh nghiệp tư nhân NH lập ngày 31-12-2014 ghi “trong đó, nợ đầu kỳ: 0 đồng; mua hàng trong kỳ: 54.022.012 đồng; đã thanh toán: 6.329.400 đồng; còn nợ: 47.692.612 đồng”, có chữ ký và con dấu của đại diện Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM và Doanh nghiệp tư nhân NH phù hợp với thoả thuận trong Hợp đồng đại lý hàng hoá.

. Về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và yêu cầu khởi kiện:

Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện của nguyên đơn trình bày: Từ sau khi đối chiếu công nợ đến nay, Doanh nghiệp tư nhân NH vẫn chưa thanh toán số tiền 47.692.612 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm mười hai đồng) cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM. Bị đơn là bà Ngô Thị H đã được niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Doanh nghiệp tư nhân NH đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng đại lý hàng hóa số 105/PGDM, Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 01-12-2014, hóa đơn giá trị gia tăng số 0001466 và biên bản đối chiếu công nợ ngày 31-12-2014. Số tiền gốc Doanh nghiệp tư nhân NH còn nợ Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM là 47.692.612 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm mười hai đồng).

Theo Điều 2 Hợp đồng đại lý hàng hóa số 105/PGDM ngày 01-12-2014: “Nếu quá thời hạn 30 ngày mà đại lý chưa thanh toán thì thì đại lý sẽ phải chịu lãi suất quá hạn là 1,5% cho tổng số tiền còn nợ đọng; lãi được tính cộng dồn theo ngày”. Tuy nhiên, Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM chỉ yêu cầu Doanh nghiệp tư nhân NH thanh toán số nợ gốc 47.692.612 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm mười hai đồng), không yêu cầu trả lãi phát sinh đối với số tiền trên là hoàn toàn tự nguyên, không vi phạm đạo đức và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Theo khoản 1 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2014 “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Do Doanh nghiệp tư nhân NH vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bà Ngô Thị H – chủ Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM số tiền Doanh nghiệp còn nợ.

Từ những lập luận trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, buộc bà Ngô Thị H phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc 47.692.612 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm mười hai đồng) cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM.

Mặc dù, trong hợp đồng đại lý có thoả thuận lãi suất quá hạn khi nợ đọng nhưng Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM không yêu cầu tính lãi trên số tiền mà Doanh nghiệp tư nhân NH vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định cụ thể như sau:

Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí do Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM đã nộp sẽ được trả lại.

Do bà Ngô Thị H phải thanh toán cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM là 47.692.612 đồng (nhỏ hơn 60.000.000 đồng) nên bà Ngô Thị H phải chịu án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 357, Điều 385, Điều 398, Điều 401, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 183, Điều 204 của Luật Doanh nghiệp 2014;

- Căn cứ Điều 166 và Điều 168 của Luật Thương mại năm 2005;

- Căn cứ Điều 147, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM. Buộc bà Ngô Thị H phải thanh toán toàn bộ số nợ gốc 47.692.612 đồng (bốn mươi bảy triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn sáu trăm mười hai đồng) cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM.

2. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM số tiền tạm ứng án phí 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) đã nộp tại biên lai số 0005185 ngày 18-3-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố NĐ, tỉnh Nam Định.

Bà Ngô Thị H phải nộp án phí kinh doanh thương mại có giá ngạch là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

4. Quyền kháng cáo:

Công ty cổ phần Phát triển Phụ gia và Sản phẩm DM, ông Nguyễn Đức K, bà Ngô Thị H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ