- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lê Anh T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HS-ST Ngày 24-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Hoàng Văn Hào.
2. Ông: Trần Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn T Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Anh T, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1982. Nơi cư trú: Xóm Thắng Lợi, xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu Hường, sinh năm 1946 và bà Lê Thị Xuân, sinh năm 1949; Vợ: Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1984; Con: Có 02 con lớn sinh năm 2018 nhỏ sinh năm 2021; tiền sự: Không; tiền án: +Ngày 26/02/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/5/2020.
Nhân thân: +Ngày 27/6/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 03 tháng 12 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án).
+Ngày 25/10/2004, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án).
+Ngày 24/5/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án).
+Ngày 29/10/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2021 cho đến nay, hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại: Anh Hoàng Văn Khang, sinh năm 1981; Trú tại: Xóm 1, xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Lê Hữu Hường, sinh năm 1946; Trú tại: Xóm Thắng Lợi, xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 16/11/2021, Lê Anh Tiến, sinh năm 1982, trú quán xóm Thắng Lợi, xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương ( là đối tượng đang có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37D1-629.46 ( chiếc xe này đã được đăng ký mang tên của Lê Anh Hà – anh trai của Lê Anh Tiến, nhưng anh Hà đã cho ông Lê Hữu Hường là bố đ của anh Hà sử dụng từ tháng 10 năm 2014 đi từ nhà của mình đến khu vực xã Đông Sơn với mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực đoạn đường từ cầu Mụ Bà thuộc địa phận xóm 1, xã Đông Sơn, huyện Đô Lương đến UBND xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tại đoạn đường do công ty xây dựng Hoàng Đông Đô đang thi công thì Tiến thấy ở hố ga ven đường có 01 ( một tấm ván khuôn b ng kim loại hình chữ nhật, kích thước khoảng 2mx0,8m. Quan sát xung quanh không có người nên Tiến đã dừng xe mô tô, xuống xe đi lại ch tấm kim loại dùng hay tay nâng tấm ván khuôn b ng kim loại lên xe mô tô của mình. Khi nâng tấm ván khuôn b ng kim loại xong và bắt đầu nổ máy xe mô tô thì bị anh Hoàng Văn Khang, sinh năm 1981, trú quán xóm 1, xã Đông Sơn, huyện Đô Lương ( anh Hoàng Văn Khang là người trực tiếp quản lý tài sản cho công ty cổ phần xây dựng Hoàng Đông Đô phát hiện nên Tiến đã chạy thoát để lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37D1: 629.46 và tấm kim loại tại hiện trường. Đến khoảng 09 giờ ngày 24/11/2021, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật, Lê Anh Tiến đã đến trụ sở Công an huyện Đô Lương để đầu thú.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 25 ngày 29 tháng 11 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Đô lương kết luận:
01 ( một tấm ván khuôn b ng kim loại, hình chữ nhật nặng 70kg, kích thước 2x0.8m đã qua sử dụng có giá trị 700.000 đồng ( Bảy trăm nghìn đồng (BL:38)
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã thu giữ của Lê Anh Tiến vật chứng gồm:
01 (một) xe mô tô màu đen bạc, nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 37D1 629.46, xe đã qua sử dụng. 01( một tám ván khuôn hình chữ nhật b ng kim loại, kích thước 2 x 0.8m nặng 70 kg đã qua sử dụng.
Sau khi xác định được chủ sở hữu hợp pháp Cơ quan CSĐT Công an huyện Đô Lương đã trả lại 01( một tấm ván khuôn hình chữ nhật b ng kim loại, kích thước 2 x 0.8m nặng 70 kg đã qua sử dụng cho người đại diện của bị hại anh Hoàng Văn Khang.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Đô Lương đã trả lại 01 (một) xe mô tô màu đen bạc, nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 37D1 629.46, xe đã qua sử dụng cho anh Lê Anh Hà là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô trên.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện bị hại anh Hoàng Văn Khang sau khi nhận lại tài sản không có yêu cầu gì về mặt dân sự.
Bản cáo trạng số 05/CT-VKS-ĐL ngày 27/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố Lê Anh T về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng điểm b khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự. xử phạt bị cáo Lê Anh T từ 15 đến 18 tháng tù; Miễn hình phạt phụ là phạt tiền cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nhất trí về tội danh, khung hình phạt, không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đô Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng và người T hành tố tụng đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ và không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, 299 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn T hành xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Anh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa kết luận: Có đủ cơ sở kết luận Lê Anh T phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: vào ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại đoạn đường đang thi công của Công ty xây dựng Hoàng Đông Đô thuộc xóm 1, xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Lê Anh T (đang có một tiền án về tội trộm cắp tài sản) đã lén lút lấy trộm một tấm ván khuôn b ng kim loại với trị giá tài sản 700.000 đồng. Tuy giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng do T đã bị xử về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo Lê Anh T về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có cơ sở.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh, xem thường pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý bất an trong xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, hoàn toàn đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Bị cáo Lê Anh T là đối tượng hình sự có nhân thân rất xấu năm lần bị tòa án xét xử về tội “trộm cắp tài sản” “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy” Bị cáo đã được cải tạo giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục nghiện ma túy và phạm tội thể hiện bị cáo là đối tượng khó giáo dục cải tạo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là đối tượng có nhân thân rất xấu. Cần thiết phải lên cho bị cáo một mức án nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dục cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng cần xem xét bị cáo sao khi phạm tội đã ra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo T đang bị tạm giam nên cần quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù bị cáo còn có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản, nhưng qua xác minh của cơ quan điều tra thì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, tài sản không có gì đáng giá vì vậy không áp dụng hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội; buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tại phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Lê Anh T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Anh T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 24/11/2021.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội: Buộc bị cáo Lê Anh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - - VKSND huyện Đô Lương; - - Công an huyện Đô Lương; - - THADS huyện Đô Lương; - - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - - Bị cáo; - - Người bị hại; - -Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Anh |