- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Hoàng Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 268; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 299 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 07/2022/HS-ST Ngày: 19/04/2022 |
THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Trúc và ông Hồ Văn Dũng. - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà H Thị Phượng - Kiểm sát viên. Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2022/TLST- HS ngày 21 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2022/QĐXXST-HS ngày 22/3/2022 đối với bị cáo: Trần Thanh H, tên gọi khác: Tư; sinh ngày 05/6/1990, tại D, Bình Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã C, thị xã D, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Nhà trọ Thành Hưng, Tổ 1, phường P, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Lê Thị L; sống chung như vợ chồng với chị Lê Thị S và có 02 người con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 01/12/2021 đến ngày 04/12/2021 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt. - Bị hại: Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn X, xã Y, huyện Z, tỉnh Gia Lai; vắng mặt. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 1. Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ 2, phường P, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
2. Phạm Thị Thu M, sinh năm: 1997; địa chỉ: Tổ 5, phường P, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt. - Người làm chứng: Trường A1, Lê Thị S, Võ Thị A2 và Nguyễn Thị A3. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ ngày 27/11/2021, Trần Thanh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng - xanh, biển số 77K1 - 279.79 đến nhà người quen ở khu vực Ngã ba Đồng Găng thuộc phường E, thị xã A, tỉnh Gia Lai nhưng không gặp nên H điều khiển xe mô tô chạy trên Quốc lộ 19 hướng Bình Định - Gia Lai để về phòng trọ. Trên đường đi H phát hiện chị Nguyễn Thị Mỹ N điều khiển xe mô tô biển số 81F1-04648 đi phía trước cùng chiều có để 01 chiếc điện thoại di động ở túi quần Jean phía trước bên phải nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt. H điều khiển xe mô tô chạy theo chị N. Chị N rẽ vào đường Trần Quang Diệu, khi đến quầy bán rau củ bên lề đường trước số nhà 91 Trần Quang Diệu thuộc khu vực chợ A tại Tổ 14, phường P, thị xã A thì dừng lại để mua hàng. Lúc này chị N vẫn ngồi trên xe, đầu xe quay ra hướng Quốc lộ 19. H điều khiển xe chạy qua chỗ chị N đứng một đoạn rồi quay xe lại hướng cùng chiều với chị N và chạy K nhanh chóng áp sát phía bên phải chị N, dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động hiệu IPhone 6 có ốp lưng màu nâu và có gắn sim điện thoại với số thuê bao 0347768647 rồi bỏ vào túi quần Jean bên trái của Hoàng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản của chị N, H điều khiển xe chạy ra hướng Quốc lộ 19, rẽ sang đường Bùi Thị Xuân - H Hoa Thám - Chu Văn An đến đường Tôn Đức Thắng, H dừng xe tháo sim vứt xuống lề đường rồi tiếp tục điều khiển xe đến tiệm điện thoại đi động Tiến K thuộc Tổ 02, phường E, thị xã A bán được 450.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Ngày 01/12/2021, Trần Thanh H đến Công an thị xã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A thu giữ các vật chứng gồm: - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu đen - xám, có số Imei: 355403079058498 đã qua sử dụng, không có sim, không ốp lưng; - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus, màu trắng xanh, biển số 77K1- 279.79, số khung RLCUE3220JY122343, số máy E3X9F597194, không có gương chiếu hậu, đầu dè chắn bùn trước có dán đề can màu đen; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 020986 mang tên Trường A1 của xe mô tô biển số 77K1-279.79; - 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei1: 356940114554576; Imei 2: 356940119554571, có gắn thẻ sim Viettel ghi số:
8984048000314320633; 01 mũ bảo hiểm màu đen bằng nhựa có chữ Nike; 01 mũ vải màu nâu xám có ghi chữ ARMANI; 01 áo khoác gió màu đen trên cánh tay áo có mạc màu đen trắng và chữ REBO, ngực áo phía bên trái có logo bằng cao su ghi chữ FEDERATION DE FUTBOL; 01 quần Jean màu xanh phía sau có lo go bằng vải màu trắng ghi chữ JEANS FASHION; 01 đôi dép dạng dép tông xỏ ngón màu nâu đỏ, phía trên quai có logo màu đỏ ghi chữ VITAS; 01 chứng minh nhân dân số 215133693 tên Trần Thanh H, cấp ngày 15/7/2019, nơi cấp Công an tỉnh Bình Định. Đối với chiếc sim điện thoại có số thuê bao 0347768647 của chị N, H vứt tại đường Tôn Đức Thắng, quá trình điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả; 01( một) ốp lưng điện thoại Iphone 6, màu nâu sau khi chiếm đoạt H bán cho anh Nguyễn Ngọc K, sau đó anh K đã vứt đi nên không có cơ sở truy tìm và 01 (một) áo mưa tiện dụng màu xanh, H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, sau đó H vứt vào sọt rác nên không truy tìm được. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã đã trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ N 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6; chị Phạm Thị Thu M 01 (một) xe mô tô hiêu Yamaha Sirus, biển số 77K1- 279.79 màu trắng – xanh và 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 020986 mang tên Trường A1 của xe mô tô biển số 77K1-279.79. Tại Kết luận định giá số 65/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A xác định: Giá trị 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu đen xám, số imei 355403079058498 đã qua sử dụng là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Tại Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS ngày 30/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A xác định: Giá trị 01 (một) chiếc Sim số điện thoại là 25.000đ (hai năm nghìn đồng) và 01 (một) chiếc ốp lưng điện thoại di động Iphone 6, màu nâu (đã qua sử dụng) là 30.000đ (ba mươi nghìn đồng). Tại Bản cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 20/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”; đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 38; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh H từ: 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị trả lại cho bị cáo Trần Thanh H: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei1: 356940114554576; Imei 2: 356940119554571, có gắn thẻ sim Viettel ghi số: 8984048000314320633; 01 chứng minh nhân dân số 215133693 tên Trần Thanh H, cấp ngày 15/7/2019, nơi cấp Công an tỉnh Bình Định; - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm màu đen bằng nhựa có chữ Nike; 01 mũ vải màu nâu xám có ghi chữ ARMANI; 01 áo khoác gió màu đen trên cánh tay áo có mạc màu đen trắng và chữ REBO, ngực áo phía bên trái có logo bằng cao su ghi chữ FEDERATION DE FUTBOL; 01 quần Jean màu xanh phía sau có lo go bằng vải màu trắng ghi chữ JEANS FASHION; 01 đôi dép dạng dép tông xỏ ngón màu nâu đỏ, phía trên quai có logo màu đỏ ghi chữ VITAS; Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo Trần Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Lời khai của chị Nguyễn Thị Mỹ N có tại hồ sơ vụ án thể hiện: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 27/11/2021, chị N đang đứng mua hàng tại quầy bán rau củ bên lề đường thuộc khu vực chợ A thì bất ngờ có 01 người đàn ông đi xe mô tô từ phía sau thò tay giật chiếc điện thoại Iphone 6, màu đen - xám, có số Imei: 355403079058498, bên trong có gắn sim 0347768647 trong túi quần trước, bên phải của chị rồi bỏ chạy. Sau đó chị đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an thị xã A. Quá trình điều tra đã xác định Trần Thanh H là người thực hiện hành vi cướp giật chiếc điện thoại nói trên của chị. Hiện nay chị đã được nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Lời khai của anh Nguyễn Ngọc K có tại hồ sơ vụ án thể hiện: Anh là chủ cửa hàng điện thoại Tiến Tới địa chỉ: Tổ 2, phường E, thị xã A. Vào ngày 27/11/2021 anh có thu mua 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu đen - xám, có số Imei: 355403079058498 do Trần Thanh H mang đến bán với giá 450.000đ. Khi mua anh không biết chiếc điện thoại này do Trần Thanh H phạm tội mà có. Quá trình điều tra anh đã nộp chiếc điện thoại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A để trả lại cho bị hại. Anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền mà anh đã dùng để mua chiếc điện thoại nói trên. Lời khai của chị Phạm Thị Thu M có tại hồ sơ vụ án thể hiện: Chị là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus, biển số 77K1- 279.79 màu trắng xanh, số khung RLCUE3220JY122343, số máy E3X9F597194. Vào khoảng tháng 3 năm 2021 chị có cho Trần Thanh H thuê chiếc xe mô tô nói trên với giá 50.000đ/ngày. Khi thuê xe hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau chứ không lập thành văn bản. Việc H dùng xe mô tô nói trên để thực hiện hành vi phạm tội thì
chị không biết. Hiện nay chị đã nhận lại chiếc xe mô tô, không bị hư hỏng gì nên chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xuất phát từ động cơ thiếu tiền để mua nhu yếu phẩm cần thiết cho gia đình nên bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp. [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, do đó đã có đủ cơ sở xác định: Vào chiều ngày 27/11/2021, tại Tổ 14, phường P, thị xã A bị cáo Trần Thanh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus, màu trắng xanh, biển số 77K1- 279.79 áp sát chị Nguyễn Thị Mỹ N phía bên phải, dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động hiệu IPhone 6 có gắn sim và ốp lưng màu nâu của chị N với tổng trị giá 1.555.000đ (một triệu năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng) rồi nhanh chóng tẩu thoát. Vì vậy, đã đủ cơ sở tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”. Do bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật tài sản có khả năng gây nguy hiểm cao cho người khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. [5] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vây, xét tính chất, mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội. [6] Về dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không có yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập. [7] Về xử lý vật chứng: - Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei1: 356940114554576; Imei 2: 356940119554571, có gắn thẻ sim Viettel ghi số: 8984048000314320633; 01 chứng minh nhân dân số 215133693 mang tên Trần Thanh H, cấp ngày: 15/7/2019, nơi cấp: Công an tỉnh Bình Định không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo Trần Thanh H. - Đối với 01 mũ bảo hiểm màu đen bằng nhựa có chữ Nike; 01 mũ vải màu nâu xám có ghi chữ ARMANI; 01 áo khoác gió màu đen trên cánh tay áo có mạc màu đen trắng và chữ REBO, ngực áo phía bên trái có logo bằng cao su ghi chữ FEDERATION DE FUTBOL; 01 quần Jean màu xanh phía sau có lo go bằng vải màu trắng ghi chữ JEANS FASHION; 01 đôi dép dạng dép tông xỏ ngón màu nâu đỏ, phía trên quai có logo màu đỏ ghi chữ VITAS là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 299 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Cướp giật tài sản”. 2. Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 01/12/2021). 3. Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Imei1: 356940114554576; Imei 2: 356940119554571, có gắn thẻ sim Viettel ghi số: 8984048000314320633; 01 chứng minh nhân dân số 215133693 tên Trần Thanh H, cấp ngày 15/7/2019, nơi cấp Công an tỉnh Bình Định. - Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm màu đen bằng nhựa có chữ Nike; 01 mũ vải màu nâu xám có ghi chữ ARMANI; 01 áo khoác gió màu đen trên cánh tay áo có mạc màu đen trắng và chữ REBO, ngực áo phía bên trái có logo bằng cao su ghi chữ FEDERATION DE FUTBOL; 01 quần Jean màu xanh phía sau có lo go bằng vải màu trắng ghi chữ JEANS FASHION; 01 đôi dép dạng dép tông xỏ ngón màu nâu đỏ, phía trên quai có logo màu đỏ ghi chữ VITAS. (Đặc điểm, tình trạng vật chứng cụ thể như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25/01/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A với Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A). 4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (19/4/2022), bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND thị xã A; - Công an thị xã A; - Chi cục THADS thị xã A; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. Bùi Tứ Hải | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |