- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 07/2022/HS-ST Ngày 24-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bích Ngọc
Ông Nguyễn Văn Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành ph ố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Hùng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 19 tháng 8 năm 1977 tại B. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C, T, huyện K, thành phố H; chỗ ở: M2 tổ 10 phường D, N, thành phố H; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nghiêm Thị T (đều đã chết); có vợ là Vũ Thị N (đã ly hôn) và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/8/2020; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T theo học và tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp Y sỹ tại Trường trung cấp y tế Hà Nội. Khoảng cuối năm 2017, Nguyễn Văn T biết trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, Bệnh viện da liễu Trung Ương mở khóa học cấp chứng chỉ chuyên môn “Thẩm mỹ và ứng dụng công nghệ laser, tế bào gốc trong chuyên ngành da liễu” và khóa học “Định hướng chuyên ngành da liễu” với thời gian đào tạo 06 tháng. Tuy nhiên, điều kiện dự tuyển các khóa học này phải là Bác sỹ có bằng đại học ngành Y, nhưng T không đủ điều kiện. Do đó, T nảy sinh ý định làm giả bằng Đại học Y Hải Phòng để hoàn thiện làm hồ sơ dự tuyển.
Thông qua mạng xã hội facebook, T liên hệ với một người nhận làm bằng giả (không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ) đặt làm bằng tốt nghiệp của trường Đại học Y Hải Phòng, người này đồng ý và báo giá 2.500.000 đồng. T trực tiếp cung cấp thông tin cá nhân của mình, ảnh và số tiền 2.500.000 đồng cho vào trong một phong bì rồi gửi xe ô tô khách tại bến xe Cầu Rào đến địa chỉ mà người này cung cấp (không nhớ rõ địa chỉ). Khoảng 10 ngày sau, người này nhắn tin qua ứng dụng messenger thông báo cho T ra bến xe Cầu Rào, thành phố Hải Phòng để nhận tài liệu. Bằng giả mà T nhận được là Bằng tốt nghiệp của trường Đại học Y Hải phòng có ảnh và thông tin cá nhân của Nguyễn Văn T, có dấu và chữ ký của hiệu trưởng trường Đại học Y Hải Phòng, cấp ngày 12/9/2005; số hiệu bằng: B63066.
Ngày 27/01/2018, T mang bằng tốt nghiệp giả này ra Phòng công chứng An Bình ở địa chỉ: Số 284 Lạch Tray, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng để chứng thực. Sau đó, T sử dụng các bản sao có chứng thực để nộp hồ sơ theo học lớp “Thẩm mỹ và ứng dụng công nghệ laser, tế bào gốc trong chuyên ngành da liễu” của Đại học Quốc Gia Hà Nội và khóa học “định hướng chuyên ngành da liễu” của Bệnh viện da liễu Trung Ương.
Sau khi có hai chứng chỉ trên, khoảng tháng 9/2019 T mở phòng thẩm mỹ viện tại nhà mình ở địa chỉ: Số 258 Hào Khê, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Do không có khách, nên T đóng cửa thẩm mỹ viện. Đến tháng 7/2020, T liên hệ Bệnh viện Green để đặt vấn đề sẽ cung cấp trang thiết bị cho Thẩm mỹ viện quốc tế Green trực thuộc Công ty cổ phần Bệnh viện Quốc tế Green có địa chỉ: Tầng 2, số 7, lô 28A Lê Hồng Phong, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Trong quá trình chuẩn bị đưa vào hoạt động thì thấy trên báo pháp luật (ngày 12, 15/9/2020) có đăng thông tin phản ánh về việc Nguyễn Văn T sử dụng bằng giả. Ngày 15/9/2020, T đến Công an phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi làm giả bằng Đại học Y Hải Phòng và sử dụng để được học khóa học nêu trên.
Ngày 11/6/2021, Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền có Công văn số 398/CV chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân để giải quyết theo thẩm quyền.
Kết luận giám định số 134/KLGĐ-PC09 ngày 25/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - CATP Hải Phòng kết luận:
- 01 (một) bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp Y sỹ mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số hiệu: B703454 ghi ngày cấp: 29/9/2017 và nơi cấp: Trường trung cấp y tế Hà Nội là thật.
- 01 (một) bằng tốt nghiệp Đại học Bác sỹ đa khoa mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số hiệu: B63066 ghi ngày cấp: 12/02/2005 và nơi cấp: Đại học Y Hải Phòng là giả và được làm giả bằng phương pháp in phun màu.
Xác minh tại Trường Đại học Y dược Hải Phòng xác định: Không có ai tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977 được cấp bằng đại học chuyên ngành Bác sỹ đa khoa có số vào sổ 34, số hiệu bằng B63066, bằng tốt nghiệp mang tên Nguyễn Văn T trên không phải do trường cấp.
Xác minh tại Bệnh viện da liễu Trung ương xác định: Bệnh viện da liễu có cấp chứng chỉ đào tạo liên tục số 462/2018/B62 ký ngày 15/11/2018 cho Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977.
Xác minh tại Khoa Y dược - Đại học Quốc Gia Hà Nội xác định: Trường có cấp 01 giấy chứng chỉ đào tạo liên tục số 806/CCA100 ký ngày 18/6/2018 cho Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977 đã hoàn thành khóa học lớp thẩm mỹ và ứng dụng công nghệ laser và tế bào gốc trong chuyên ngành da liễu.
Xác minh tại Phòng công chứng An Bình xác định: Ngày 27/01/2018 Phòng công chứng An Bình có sao đúng với bản chính bằng tốt nghiệp Đại học y Hải Phòng chuyên ngành Bác sỹ đa khoa mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số hiệu bằng: B63066 với số lượng 05 bản.
Xác minh tại Trường Cao đẳng Y - Dược cộng đồng: Nguyễn Văn T có tham gia và hoàn thành các khóa học “Chăm sóc da” và “An toàn y tế, phòng chống lây nhiễm các bệnh qua đường máu và dịch sinh học tại cơ sở thẩm mỹ”. Hồ sơ tuyển sinh gồm phiếu đăng ký tuyển sinh, CCCD và ảnh 3x4 cm.
Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSLC ngày 20/12/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Làm, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân giữ nguyên quan điểm truy tố bị can Nguyễn Văn T theo tội danh cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Làm, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ.
Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình của bị cáo kinh tế khó khăn, bị cáo là lao động chính hiện không có thu nhập ổn định và đang một mình nuôi con nhỏ, nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bằng tốt nghiệp Đại học Bác sĩ đa khoa mang tên Nguyễn Văn T do Đại học Y Hải Phòng cấp ngày 12/02/2005 là giả, làm bằng phương pháp in phun màu là vật chứng thu giữ lưu trong hồ sơ vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7 plus màu vàng đồng đã qua sử dụng là tài sản riêng của Nguyễn Văn T và không có cơ sở xác định T sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho T.
- Đối với 01 chứng chỉ đào tạo liên tục mang tên Nguyễn Văn T do Khoa Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội cấp ngày 18/6/2018 và 01 chứng chỉ đào tạo liên tục mang tên Nguyễn Văn T do Bệnh viện Da liễu Trung ương cấp ngày 15/11/2018 đều là vật chứng thu giữ lưu trong hồ sơ vụ án. Khoa Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội và Bệnh viện Da liễu Trung ương đã có văn bản hủy kết quả của các chứng chỉ trên nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Đối với 01 bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp Y sỹ mang tên Nguyễn Văn T do trường Trung cấp y tế Hà Nội cấp ngày 29/9/2017; 01 chứng nhận đào tạo về an toàn y tế phòng chống lây nhiễm các bệnh qua đường máu và dịch sinh học tại cơ sở thẩm mỹ mang tên Nguyễn Văn T do Trường Cao đẳng Y - Dược Cộng đồng cấp ngày 18/8/2020 và 01 chứng chỉ đào tạo về chăm sóc da mang tên Nguyễn Văn T do Trường Cao đẳng Y - Dược Cộng đồng cấp ngày 21/8/2020 đều là thật, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Lời khai về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng cùng với vật chứng đã được thu giữ trong vụ án, cho thấy: Nguyễn Văn T đã thực hiện chuỗi hành vi một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, trong đó hành vi trước là tiền đề, điều kiện để thực hiện hành vi sau. Hành vi của T tự khởi xướng việc làm giả con dấu, tài liệu của trường Đại học Y Hải Phòng với mục đích sử dụng bằng Đại học Y Hải Phòng giả để được dự khóa học do cơ quan, tổ chức tuyển sinh và đã được cấp chứng chỉ (hành vi phạm tội này là điều kiện để thực hiện và là hệ quả tất yếu của hành vi phạm tội kia). Sau đó, T đã mở cơ sở hành nghề thì bị khách hàng phát hiện và đăng thông tin lên báo. Do đó, T phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự với một tội danh đầy đủ đối với tất cả các hành vi đã được thực hiện theo điều luật tương ứng và chỉ phải chịu chung một hình phạt. Căn cứ vào các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Kết luận giám định số 134/KLGĐ-PC09 ngày 25/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng và quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Làm, sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo Nguyễn Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo tự nguyện ra đầu thú, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Xét hành vi, động cơ, mục đính thực hiện tội phạm của bị cáo Nguyễn Văn T như đã nêu ở trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác. Tội phạm mà bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ điều kiện để áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, mà giao bị cáo về cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình quản lý, theo dõi, giám sát cũng đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự bị cáo bị khấu trừ một phần thu nhập và phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng. Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình và bản thân bị cáo hiện nay không có thu nhập ổn định, đang nuôi 02 con nhỏ và trên cơ sở quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền, miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 Bằng tốt nghiệp Đại học Bác sỹ đa khoa mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số hiệu: B63066 ghi ngày cấp: 12/02/2005 và nơi cấp: Đại học Y Hải Phòng là giả và được làm giả bằng phương pháp in phun màu là vật chứng thu giữ lưu trong hồ sơ vụ án, nên không đặt ra xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng đồng đã qua sử dụng là tài sản riêng của Nguyễn Văn T và không có cơ sở xác định T sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, nên cần trả lại cho T.
Đối với 01 Chứng chỉ đào tạo liên tục mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số: 805/CC A100, ngày cấp: 18/6/2018, nơi cấp: Khoa Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội; 01 Chứng chỉ đào tạo liên tục mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số: 462/2018/B62, ngày cấp: 15/11/2018, nơi cấp: Bệnh viện Da liễu Trung ương là vật chứng thu giữ lưu trong hồ sơ vụ án; Khoa Y Dược - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Bệnh viện Da liễu Trung ương đã có văn bản hủy kết quả, nên không đặt ra xử lý.
Đối với 01 Bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp Y sỹ mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số hiệu: B703454, ngày cấp: 29/9/2017, nơi cấp: Trường Trung cấp y tế Hà Nội; 01 Chứng nhận đào tạo mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số hiệu: 015, ngày cấp: 18/8/2020, nơi cấp: Trường Cao đẳng Y - Dược Cộng đồng và 01 Chứng chỉ đào tạo mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số hiệu: 009, ngày cấp: 21/8/2020, nơi cấp: Trường Cao đẳng Y - Dược Cộng đồng đều là thật, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, được lưu giữ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và thi hành án, nên trả lại cho bị cáo.
- Về vấn đề khác:
Đối với việc Phòng khám đa khoa Bình Dân (địa chỉ: Phường Tân Thành, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng) có xác nhận vào sơ yếu lý lịch và đơn đăng ký đi học của T với nội dung: T làm bác sỹ tại phòng khám từ năm 2011 đến 2018. Tài liệu này Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân chỉ thu giữ được 01 bản photo lý lịch và 01 đơn đăng ký đi học nên hiện tại chưa đủ căn cứ làm rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tách hồ sơ, tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đối với đối tượng có hành vi cùng T làm giả con dấu, tài liệu cơ quan, tổ chức, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân hiện không xác định được căn cước, lai lịch, địa chỉ của đối tượng, nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Làm, sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Trong trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng đồng có số IMEI: 353818080109216, điện thoại đã qua sử dụng (theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, Hải Phòng);
- Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 (một) Bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp Y sỹ mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số hiệu: B703454, số vào sổ cấp bằng: 1992, ngày cấp: 29/9/2017, nơi cấp: Trường Trung cấp y tế Hà Nội; 01 (một) Chứng nhận đào tạo mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số hiệu: 015, số vào sổ cấp chứng nhận: 019/ATYT01-19, ngày cấp: 18/8/2020, nơi cấp: Trường Cao đẳng Y - Dược Cộng đồng và 01 (một) Chứng chỉ đào tạo mang tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 19/8/1977, số hiệu: 009, số vào sổ cấp chứng chỉ: 002/CSD02-09, ngày cấp: 21/8/2020, nơi cấp: Trường Cao đẳng Y - Dược Cộng đồng.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP.Hải Phòng; - VKSND quận Lê Chân; - PV06, PC10-Công an TP. Hải Phòng; - CQCSĐT-Công an quận Lê Chân; - Cơ quan THAHS quận Lê Chân; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - UBND phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; - Công an phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đức Hoàng |