vanban.org

Bản án 07/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 28/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Thạch Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan C sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần ra Quyết định xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu như sau: Trả lại 01 (một) xe mô tô, hiệu LINMAX, kiểu Wave Trung Quốc, biển kiểm soát 84K1-0683, màu xám cho Thạch Minh C. Do đó, về vật chứng, đồ vật đã xử lý … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thạch Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2022/HS-ST
Ngày: 27-12-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Mỹ Chấm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thanh Bình

Ông Nguyễn Minh Nhiễm

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HS ngày 15-12-2022; đối với bị cáo:

Thạch Tuấn K, sinh ngày 27-3-2003; Nơi cư trú: Ấp S, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Đô R, sinh năm 1981 (còn sống) và bà Thạch Thị H, sinh năm 1985 (còn sống); bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự, ngày 15/7/2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tân Hùng ra Quyết định áp dụng biên pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng về hành vi nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 15/10/2021; Nhân thân: Ngày 02/10/2022 bị Công an huyện Tiểu Cần ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 03/9/2022 cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Phạm Thị Thiên Ph, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh (Có mặt).

Người bị hại:

1. Anh Thạch Th, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp Cần T, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt);

2. Chị Thạch Thị Th, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp Cần T, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Thạch Minh C, sinh ngày 09/10/2006; Địa chỉ: Ấp S, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt);

Người đại diện hợp pháp của anh C: Bà Thạch Thị Q, sinh năm 1967; Địa chỉ: Ấp S, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt);

2. Anh Thạch Kim H, sinh năm 1999; Địa chỉ: Ấp S, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt);

3. Anh Kim M, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp Cây Hẹ, xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (đang cai nghiện tại cơ cở Cai nghiện tỉnh Trà Vinh; ngụ tại ấp Hương Phụ C, xã Đa Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt);

4. Anh Trần Hoàng Kh, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp Lò Ngò, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt);

5. Anh Thạch Th, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp Cây Hẹ, xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt);

6. Anh Thạch Ng, sinh năm 1999; Địa chỉ: Ấp Cây Hẹ, xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt);

7. Anh Sơn Lâm Trường Th, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp Lò Ngò, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt);

8. Anh Lâm Thái Q, sinh năm 1999; Địa chỉ: Khóm 8, phường 9, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt);

9. Anh Thạch Đô R, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp S, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (Có mặt).

Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn Minh D, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp S, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt);

2. Anh Thạch Hoài H, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp Cần T, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt);

3. Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1964; Địa chỉ: Khóm 4, thị trấn Long Thành, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt);

4. Anh Huỳnh Văn H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp Xà Lôn, xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt);

5. Anh Đặng Hoàng Gi, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp Tân Đại, xã Hiếu Tử, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt);

6. Anh Thạch Th, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp Cần T, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt);

Người phiên dịch: Ông Thạch Thia R; Địa chỉ khóm 2, thị trấn Tiểu Cần, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 23/4/2022, bị cáo Thạch Tuấn K cùng với Thạch Minh C, sinh ngày 09/10/2006, Nguyễn Văn Minh D, sinh năm 1995, cùng ngụ ấp Sáu, xã Tân Hùng và Thạch Hoài H, sinh năm 1995, ngụ ấp Cần Tiêu, xã Tân Hòa tổ chức nhậu tại nhà của Phan Văn Em (Thanh Em), sinh năm 1980, ngụ ấp Trung Tiến, xã Tân Hùng, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáo, C, D, Hận tiếp tục rủ nhau đến nhà D để nhậu nên C chở bị cáo, D chở Hận và trên đường C gặp Thạch Kim H, sinh năm 1990, ngụ ấp Sáu, xã Tân Hùng nên C rủ H1 cùng đi đến nhà D để nhậu. Sau đó, bị cáo, C, D, Hận, H1 cùng rủ nhau đi dự lễ cầu siêu tại Miễu Ông Tà thuộc ấp Cần T, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh. Khi đến Miễu Ông Tà, bị cáo, C, D, H, H1 đi vào nhậu, ca hát và có anh Thạch Th, sinh năm 1982, ngụ ấp Cần T, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh cùng nhậu với bị cáo. Sau đó, D, Hận đi về trước, chỉ còn bị cáo và H1 ở lại Miễu nhậu cùng với anh Th, còn C say rượu và ngủ tại Miễu.

Đến khoảng 01 giờ ngày 24/4/2022, bị cáo kêu C và H1 đi về nhà nên C, H1 cùng đi trước để lấy xe mô tô, biển kiểm soát 84K1-0683 của C dẫn lên lộ nhựa để đợi bị cáo, còn bị cáo đi ra sau, trên đường đi ra lộ nhựa thì bị cáo phát hiện phía trước nhà anh Thạch Th, sinh năm 1978, ngụ ấp Cần T, xã Tân H, huyện TC, tỉnh Trà Vinh, có 01 (một) xe mô tô, hiệu Honda, kiểu Wave RSX, màu xám đỏ, biển kiểm soát 84H1-408.41 của anh Thạch Th và chị Thạch Thị Th, sinh năm 1984, ngụ ấp Cần Tiêu, xã Tân Hòa, được dựng ngay cây nguyệt huế không có ai quản lý nên bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe trên đem cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, bị cáo lén lút dẫn xe mô tô, biển kiểm soát 84H1-408.41 lên lộ nhựa một đoạn khoảng 10 mét thì gặp C và H1 nên bị cáo nói với C “Mày đẩy dùm tao cái”, C hỏi bị cáo: “Xe của ai vậy?”, bị cáo trả lời: “Xe của cha nuôi tao, mày đẩy ra Tiểu Cần dùm tao cái” nên C vừa điều khiển xe chở H1 ngồi sau, vừa dùng chân đẩy xe mô tô cho bị cáo do xe không có chìa khóa.

Khi đến nhà H1 thì H1 thức dậy và H1 kêu C, bị cáo ghé vào nhà H1 để H1 lấy đồ nên H1, C, bị cáo cùng ghé vào nhà H1 để H1 tìm đồ nhưng không thấy và H1 lấy đèn pin cầm trên tay, bị cáo kêu H1 “Sẵn có đèn pin đi ra Tiểu Cần chơi với tụi em luôn đi”, H1 trả lời “Đi thì đi” nên C tiếp tục điều khiển xe chở H1 và dùng chân đẩy xe mô tô cho bị cáo đến nhà của Kim M, sinh năm 1989, ngụ ấp Cây Hẹ, xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần. Khi đến đầu đường đi vào nhà M, C đẩy xe mô tô để bị cáo đi trước vào nhà M còn C, H1 tắt máy xe mô tô, biển kiểm soát 84K1-0683 dẫn bộ đi vào sau.

Khi bị cáo đến nhà M, bị cáo kêu M ra mở cửa cho bị cáo, khi M mở cửa thì bị cáo dẫn xe mô tô, biển kiểm soát 84H1-408.41 đi vào dựng trong nhà của M. Lúc này, M và Trần Hoàng Kh, sinh năm 1995, ngụ ấp Lò Ngò, xã Song Lộc huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, đang ở nhà trước nên M hỏi bị cáo: “Xe đâu ra vậy mày?”, bị cáo trả lời: “Em mới đá của người ta, anh thấy em có hay không”, M nói: “Mày hay lắm, mày đem đi đâu đi nghe, tao không có chứa vụ này đâu nghe” rồi M bỏ đi vào trong phòng ngủ. Sau đó, bị cáo chủ động nói với Kh: “Anh Kh, em mới đá được chiếc xe, anh coi có chỗ nào cầm dùm em coi”, Kh trả lời: “Xe này tao không biết đâu, mày kêu Th ma đi” nên bị cáo đi vào trong phòng ngủ gặp Thạch Th (Th ma), sinh năm 1997, ngụ ấp Cây Hẹ, xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, Th và bạn gái tên Thạch Thị Đi Sa Vi (Vy), sinh năm 1996, ngụ ấp Bích Trì, xã Hòa Thuận, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đang ngủ trong phòng, bị cáo nói: “Anh Th ơi, anh Th ơi”, Th nói: “Cái gì?”, bị cáo nói: “Anh ra coi cầm dùm em chiếc xe, em mới đá của người ta”, Th nói: “Để đó đi, chút tao ra coi”. Sau đó, bị cáo đi ra chỗ chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 84H1-408.41, rồi Th đi ra gặp bị cáo nên Th hỏi: “Mày lấy xe của ai, ở đâu?”, bị cáo nói: “Em lấy ở ấp Sáu của ba nuôi em”, Th hỏi: “Mày lấy xe này có ai biết không?”, bị cáo nói: “Không, ổng xỉn quắc cần câu rồi”, Th hỏi: “Xe này có giấy tờ không?”, bị cáo trả lời: “Không”, Th nói: “Xe không có giấy tờ sao cầm”, bị cáo nói: “Cầm đại đi” và lúc này C, H1 đã đến nhà M. Sau đó, bị cáo tìm cây vít để mở khóa nguồn xe nhưng không mở được nên Th cũng tìm cách mở khóa nhưng vẫn không mở được, Th nói: “Để đó đi, sáng tao làm cho”, rồi Th gọi điện cho Sơn Lâm Trường Th (Lộc), sinh năm 1988, ngụ ấp Lò Ngò, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh nhưng Th1 không bắt máy nên Th nói với bị cáo: “Để đó đi, sáng tao đi cầm dùm cho”, bị cáo nói: “Ừ, sáng anh coi đi cầm dùm em” nên Th đi vào phòng ngủ, còn C, H1 cũng ngủ nhà trước. Lúc này, Kh kêu bị cáo mượn xe của C để chở Kh đi lên tiệm game bắn cá của Đặng Hoàng Gi, sinh năm 1995, ngụ ấp Phú Th1 I, xã Hiếu Trung, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh để Kh ngủ. Sau đó, bị cáo chở Kh đi đến tiệm game rồi bị cáo quay về nhà M ngủ.

Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, C thức dậy đi về nhà và đến khoảng 09 giờ cùng ngày, bị cáo, H1 thức dậy (M, Th, SaVi còn ngủ) và bị cáo lấy cây vít mở áo xe mô tô, biển kiểm soát 84H1-408.41 để tìm cách mở khóa nguồn xe nhưng bị cáo mở không được. Lúc này, Th thức dậy nên Th nói với bị cáo: “Để đó đi, chút tao làm cho” rồi Th đi rửa mặt. Sau đó, Th đi vào mở được khóa nguồn xe và Th nói với bị cáo: “Mày đi lên Mỹ Phong với anh” bị cáo đồng ý, rồi Th điều khiển xe lấy trộm chở bị cáo đi đến tiệm game bắn cá của Giang gặp Kh và Thạch Ng, sinh năm 1999, ngụ ấp Cây Hẹ, xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, Th gặp Kh đứng ngoài tiệm game nên Th hỏi Kh: “Có chỗ nào cầm xe không?’ Kh nói: “Không biết”, nên Th kêu bị cáo, Kh đi vào trong tiệm game nằm võng đi. Lúc này, Ngọc đi ra gặp Th nên Th hỏi Ngọc có biết chỗ nào cầm xe không nhưng Ngọc không biết. Sau đó, Ngọc đi vào chơi game bắn cá, còn Th gọi điện cho Th1 nhờ Th1 cầm xe dùm và Th1 kêu Th chạy xe đến nhà Th1. Sau đó, Th điều khiển xe đi đến nhà Th1 và ra quán cà phê Phương Dung (gần nhà Th1), ngụ ấp Lò Ngò, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh để uống cà phê. Trong lúc uống cà phê, Th1 hỏi Th: “Xe của ai mà cầm?”, Th trả lời: “Của thằng em bắn cá thua, nhờ tao đi cầm dùm”, Th1 nói: “Cầm bao nhiêu?”, Th nói: “Cầm 6.000.000 đồng”, sau đó, bị cáo gọi điện cho Th và kêu Th “Anh cầm sát giá dùm” và Th hiểu là bị can kêu Th bán chiếc xe nên Th nói với Th1: “Anh điện bên kia, mua xe không, nó kêu bán luôn”, Th1 nói: “Có, mày kêu bán bao nhiêu, chút nữa gặp rồi cáp giá”, Th nói: “Ừ”. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Lâm Thái Q (Hy), sinh năm 1999, ngụ khóm 8, phường 9, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, cùng với một đối tượng nam (không rõ lai lịch và địa chỉ cụ thể) ngụ tỉnh Bến Tre (do Q lên mạng xã hội facebook biết đối tượng nam đang cần mua xe kiểu Wave RSX), đến quán cà phê gặp Th và Th1 nên Q, bạn của Q đi vào uống cà phê. Khi đó, Th1 nói với Th: “Mày bán bao nhiêu thì nói với người ta đi”, Th nói: “Thì bán giá 6.000.000 đồng”, cho nên Q và bạn của Q đi ra xem, còn Th1 ngồi trong quán. Sau đó, Th bán chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 84H1-408.41 cho bạn của Q với giá 4.500.000 đồng, rồi bạn của Q đưa tiền cho Th và cho Q 200.000 đồng nhưng Q không lấy mà Q cho lại Th1. Khi Th bán xe xong, Th1 chở Th đi về nhà M, gặp M, H1, Vy nên Th kêu M đi lên tiệm game của Giang rước Kh và bị cáo, đồng thời Th đưa cho M số tiền 500.000 đồng để M đi mua cơm về ăn. Sau đó, M lấy xe của Th1 lần lượt đi rước Kh và bị cáo về nhà M rồi M đi mua cơm. Khi bị cáo về nhà M, Th nói với bị cáo: “Xe cầm được 3 triệu, đưa cho M 500.000 đồng đi mua cơm ăn”, Th đưa cho bị cáo 2.500.000 đồng. Sau đó, bị cáo cho Kh 500.000 đồng nhưng sau đó bị cáo lấy lại cho Thạch Ng mượn và bị cáo trả cho Sa Vi 200.000 đồng, bị cáo cho Th 500.000 đồng và Th lấy tiền trên mua ma túy đá để Th, bị cáo, Kh, Th1 và M cùng sử dụng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo lấy số tiền 300.000 đồng đưa cho Th để mua cơm ăn nhưng Th kêu M lấy tiền đi mua, còn lại 1.000.000 đồng, bị cáo mua mồi, bia nhậu hết.

Riêng bị hại Thạch Th, đến khoảng 01 giờ 45 cùng ngày, anh Th dự lễ cầu siêu ra về thì phát hiện bị mất trộm xe mô tô nên đã trình báo Công an xã Tân Hòa. Qua xác minh, Công an xã Tân Hòa mời Thạch Tuấn K làm việc và đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của anh Thạch Th như đã nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 07 ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiểu Cần kết luận: Giá trị 01 (một) xe mô tô, hiệu Honda, kiểu Wave RSX, biển kiểm soát 84H1- 408.41, màu xám đỏ, bánh mâm, thắng đĩa theo giá thị trường tại thời điểm ngày 24/4/2022 có giá trị là 15.890.000 đồng.

Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ gồm có:

Tạm giữ 01 (một) xe mô tô, hiệu LINMAX, kiểu Wave Trung Quốc, biển kiểm soát 84K1-0683, màu xám của Thạch Minh C. Qua xác minh, xe mô tô trên do anh Đỗ Văn T, sinh năm 1964, ngụ Khóm 4, thị trấn Long Thành, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đứng tên đăng ký nhưng anh Tiến đã bán cho anh Huỳnh Văn H, sinh năm 1980, ngụ ấp Xà Lôn, xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh và anh Hồng bán lại cho C nhưng chưa sang tên. Trong quá trình điều tra, cơ quan C sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần ra Quyết định xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu như sau: Trả lại 01 (một) xe mô tô, hiệu LINMAX, kiểu Wave Trung Quốc, biển kiểm soát 84K1-0683, màu xám cho Thạch Minh C.

Đối với 01 (một) xe mô tô, hiệu Honda, kiểu Wave RSX, biển kiểm soát 84H1- 408.41, màu xám đỏ, cơ quan điều tra không thu giữ được để xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch Tuấn K khai đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên như quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Thạch Tuấn K từ 09 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính kể từ ngày 03/9/2022.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, hoàn C gia đình khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan C sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần ra Quyết định xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu như sau: Trả lại 01 (một) xe mô tô, hiệu LINMAX, kiểu Wave Trung Quốc, biển kiểm soát 84K1-0683, màu xám cho Thạch Minh C. Do đó, về vật chứng, đồ vật đã xử lý xong nên đề nghị không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại anh Thạch Th và chị Thạch Thị Th yêu cầu bị cáo Thạch Tuấn K bồi thường tài sản bị mất trộm bằng 15.000.000 đồng. Trong quá trình truy tố, cha của bị cáo là anh Thạch Đô R đã bồi thường xong cho bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Trợ giúp viên pháp lý đồng ý với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần truy tố bị cáo Thạch Tuấn K về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có tác động gia đình khắc phục hậu quả cho người bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo sống xa mẹ nhiều năm phải nghỉ học sớm đi làm, vị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo hình phạt tù ở mức thấp nhất của khung hình phạt so với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, về trách nhiệm dân sự: người bị hại và anh Thạch Đô R không có yêu nên đề nghị không xem xét, về án phí đề nghị miễn cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về phụ lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và người bào chữa không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Tại phiên tòa, Anh Thạch Th, chị Thạch Thị Th, anh Thạch Minh C, bà Thạch Thị Q, anh Kim M, anh Thạch Th, anh Nguyễn Văn Minh D có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh Trần Hoàng Kh, anh Thạch Ng, anh Thạch Kim H, anh Sơn Lâm Trường Th, Anh Lâm Thái Q, anh Thạch Hoài H, anh Đỗ Văn T, anh Huỳnh Văn H, anh Đặng Hoàng Gi, anh Thạch Th vắng mặt không lý do, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn xét xử vắng mặt những người trên theo quy định.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Tiểu Cần, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với những lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, hiện trường vụ án và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở để xác định bị cáo Thạch Tuấn K đã có hành vi lén lúc chiếm đoạt tài sản của người bị hại anh Thạch Th và chị Thạch Thị Th với tổng giá trị bằng 15.890.000 đồng đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét tuổi đời của bị cáo vẫn còn trẻ, bị cáo có đầy đủ sức khỏe nhưng không tìm kiếm công việc lao động có thu nhập hợp pháp để có tiền lo cho mình. Khi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có tiền để phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nên bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bản thân bị cáo có 01 tiền sự, vào ngày 15/7/2021 bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Tân Hùng ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng về hành vi nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 15/10/2021. Ngoài ra, vào ngày 02/10/2022 Công an huyện Tiểu Cần đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chưa nộp phạt. Do đó, Hội đồng xét xử cần xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời ngăn chặn tình hình tội phạm phát sinh xảy ra trên địa bàn.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo tác động gia đình khắc phục hậu quả cho người bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, hoàn C gia đình khó khăn, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, hoàn C kinh tế gia đình khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan C sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần ra Quyết định xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu như sau: Trả lại 01 (một) xe mô tô, hiệu LINMAX, kiểu Wave Trung Quốc, biển kiểm soát 84K1-0683, màu xám cho Thạch Minh C. Do đó, về vật chứng, đồ vật đã xử lý xong nên không xem xét.

Về trách nhiệm dâu sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Thạch Th và Thạch Thị Th yêu cầu bị cáo Thạch Tuấn K bồi thường tài sản bị mất trộm bằng 15.000.000 đồng. Trong quá trình truy tố, cha của bị cáo là anh Thạch Đô R đã bồi thường xong cho bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên không xem xét.

Về án phí hình sự: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, Thạch Th, Sơn Lâm Trường Th, Trần Hoàng Kh, Kim M tại nhà M vào ngày 24/4/2022, có dấu hiệu của tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng cơ quan điều tra chưa đủ cơ sở xử lý nên tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với Thạch Minh C, Thạch Kim H không biết bị cáo trộm cắp tài sản của anh Thạch Th nên chưa đủ cơ sở để xử lý.

Đối với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Kim M, Thạch Th, Thạch Ng, Trần Hoàng Kh, Sơn Lâm Trường Th, Lâm Thái Q và một nam thanh niên, ngụ tỉnh Bến Tre (không rõ lai lịch và địa chỉ cụ thể) xảy ra trên địa bàn ấp Lò Ngò, xã Song Lộc, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh nên cơ quan C sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần thông báo đến cơ quan C sát điều tra Công an huyện Châu Thành tiến hành xác minh, điều tra theo thẩm quyền.

Xét thấy, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét thấy, ý kiến đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Thạch Tuấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thạch Tuấn K 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 03/9/2022.

2. Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan C sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần ra Quyết định xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu như sau: Trả lại 01 (một) xe mô tô, hiệu LINMAX, kiểu Wave Trung Quốc, biển kiểm soát 84K1-0683, màu xám cho Thạch Minh C. Do đó, về vật chứng, đồ vật đã xử lý xong nên không xem xét.

3. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Thạch Th, chị Thạch Thị Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thạch Đô R không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên không xem xét.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thạch Tuấn K theo quy định của pháp luật.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ